Văn bản chỉ đạo Văn bản chỉ đạo

Văn bản chỉ đạo của Trung Ương, Thành phố Văn bản chỉ đạo của Trung Ương, Thành phố

hoạt động của chủ đề năm 2021 hoạt động của chủ đề năm 2021

Kỹ năng tuyên truyền hiệu quả trong công tác dân vận
Ngày đăng 04/11/2021 | 16:00  | Lượt xem: 1206

1. Quyết định số 23-QĐ/TW ngày 30/7/2021 của Bộ Chính trị (khóa XIII) về việc ban hành Quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị tiếp tục khẳng định: Dân vận và công tác dân vận là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược đối với toàn bộ sự nghiệp cách mạng của đất nước, là điều kiện quan trọng bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, thắt chặt mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân.

Theo Từ điển tiếng Việt, dân vận là “tuyên truyền, vận động nhân dân”. Còn theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “dân vận là vận động tất cả lực lượng của mỗi người dân, không để sót một người nào, góp thành lực lượng toàn dân để thực hành những công việc nên làm, những công việc mà đoàn thể và Chính phủ đã giao cho”. Như vậy có thể hiểu, công tác dân vận là toàn bộ các hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hệ thống chính trị nhằm tuyên truyền, vận động, thu hút, tập hợp mọi tầng lớp nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, xây dựng phát triển kinh tế - xã hội bảo vệ đất nước và giải quyết mọi bức xúc trong nhân dân.

Có thể thấy, hiệu quả của công tác dân vận bị chi phối bởi chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận, được cấu thành trên cơ sở một số yếu tố cơ bản như thái độ, kiến thức và kỹ năng. Trong bất kỳ lĩnh vực nào, mặc dù chúng ta có thái độ tích cực, kiến thức khá phong phú, nhưng không có kỹ năng tốt, thì việc giải quyết các tình huống, vấn đề thực tế vẫn kém hiệu quả. Về kỹ năng, tức khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế, thì đối với công tác dân vận, một số kỹ năng quan trọng không thể không nhắc đến là kỹ năng lắng nghe, kỹ năng tuyến truyền và kỹ năng thuyết phục. Ở bài viết này, tác giả tập trung chủ yếu cho kỹ năng tuyên truyền trong công tác dân vận.

2. Theo Từ điển đã dẫn, tuyên truyền là giải thích rộng rãi để thuyết phục mọi người tán thành, ủng hộ, làm theo. Còn theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, tuyên truyền là “đem một việc gì đó nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm”.

Tuyên truyền là một kỹ năng giao tiếp, có thể nói, kỹ năng này thường gắn với môi trường giao tiếp công vụ, trong đó các hình thức giao tiếp được thực hiện trong bối cảnh thực thi công vụ, do các bên liên quan thực hiện và để đạt được mục tiêu của hoạt động công vụ. Quá trình giao tiếp công vụ chịu sự chi phối bởi các đặc điểm căn bản của hoạt động công vụ như tính pháp chế, tính dân chủ, tính thứ bậc, tính chuyên môn hóa cao, công khai, và tính thích ứng. Kỹ năng tuyên truyền cũng không phải ngoại lệ. Để vận động quần chúng nhân dân hay các đối tượng khác hiệu quả, các tuyên truyền viên (TTV) cần tuân thủ các nguyên tắc và đáp ứng các yêu cầu cơ bản của giao tiếp công vụ cũng như của kỹ năng tuyên truyền.

Trước hết, với tư cách là một trong số các kỹ năng thuộc giao tiếp công vụ, kỹ năng tuyên truyền cần tuân thủ một số nguyên tắc cơ bản sau:

(i) Nhân ái, tôn trọng đối tượng cần được tuyên truyền. Sự nhân ái, tôn trọng và giữ thể diện cho người cùng giao tiếp sẽ giúp khẳng định nhân thân, đề cao lòng tự trọng của chính các chủ thể giao tiếp. Thái độ kính trọng nhân dân, hòa nhã và thân ái với cấp dưới của các TTV sẽ giúp họ bước đầu nhận được sự thiện cảm. Đây cũng là những chuẩn mực giao tiếp của một nền công vụ hiện đại.

 (ii) Bình đẳng trong giao tiếp. Bản chất của nguyên tắc này là cần hiểu và thực hiện theo cách  mọi người đều quan trọng", tránh trường hợp các TTV cho rằng “mình mới là quan trọng", còn công dân, nhất là những người lao động phổ thông, không có chức vụ, địa vị là không quan trọng.

(iii) Đảm bảo thẩm mỹ hành vi. Nguyên tắc này đòi hỏi các hành vi giao tiếp của các TTV sẽ không chỉ cần dừng ở mức đúng mà còn phải đẹp, nhất là ở phương diện ngôn ngữ cơ thể. Chẳng hạn, TTV tránh chỉ thẳng vào mặt người khác hoặc không nên gãi lưng, rung đùi... trước mặt công dân hay cấp dưới.

(iv) Tôn trọng các giá trị văn hóa. Trong một nước đa dân tộc, đa văn hóa như Việt Nam, cần đảm bảo tôn trọng truyền thống, văn hóa giao tiếp ứng xử của các dân tộc, đặc biệt là dân tộc thiểu số thuộc các nền văn hóa khác nhau. Xung đột về văn hóa chắc chắn sẽ dẫn đến xung đột trong giao tiếp, từ đó mục tiêu tuyên truyền cũng không cập đích.

Hai là, để đạt được mục tiêu tuyên truyền, bên cạnh việc phải tuân thủ các nguyên tắc đã đề cập bên trên, các TTV cần đáp ứng các yêu cầu, điều kiện sau:

(i) Xác định chính xác đối tượng cần được tuyên truyền. Việc xác định chính xác mối quan hệ giữa các đối tượng giao tiếp, thực chất là mối quan hệ liên nhân, là vô cùng quan trọng, bởi như kinh nghiệm đổi giao của người Việt đã đúc kết: “biết người ta, trăm trận, trăm biết biết thắng". Trong công tác dân vận, những thông tin phải tìm hiểu về đối tượng cần được tuyên truyền như số lượng, giới tính, độ tuổi, trình độ, nghề nghiệp, thành phần dân tộc, tôn giáo, những vấn đề về tâm lý, tâm tư của họ… sẽ giúp cho TTV lựa chọn được cách thức chuyển tải nội dung tuyên truyền, thời điểm thời lượng, địa điểm, kỹ thuật hỗ trợ thích hợp để việc vận động đạt được mục đích đề ra. Bởi, nếu chỉ có một cách thức mang áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng khả năng thất bại sẽ không ít.

(ii) Xây dựng kiến trúc thông điệp tuyên truyền hợp lý. Thông điệp là yếu tố quan trọng nhất trong quá trình tuyên truyền. Trên cơ sở nắm bắt được các thông tin của đối tượng cần được tuyên truyền, các TTV sẽ lựa chọn cách thức tổ chức thông điệp sao cho nhân dân, hay cán bộ, công chức, viên chức nhận biết được và hiểu chính xác. Thông điệp tuyên truyền được đưa ra cần đảm bảo các yêu cầu sau: Chính xác, rõ ràng và dễ hiểu, có sức thuyết phục.

- Tính chính xác, rõ ràng trong thông điệp tuyên truyền cần được xây dựng trên cơ sở dùng ngữ, cú pháp chuẩn xác, sao cho người nghe/ người đọc có thể hiểu một cách rõ ràng và đúng như nội dung muốn truyền đạt.

- Về tính dễ hiểu, có sức thuyết phục, Hồ Chủ tịch luôn dặn chúng ta: trình bày một vấn đề gì trước nhân dân phải rõ ràng, đơn giản, dễ hiểu. Vì vậy, để thỏa mãn được yêu cầu đó, các TTV cần sử dụng từ ngữ gần gũi với cuộc sống của người dẫn; đi thẳng vào chủ đề; kết cấu câu đơn giản, diễn đạt theo trật tự lô gích; cần đưa ra những ví dụ, những số liệu cụ thể minh họa cho mỗi ý, mỗi luận điểm, sử dụng hình ảnh, hình tượng quen thuộc với người dân giải thích tại sao họ cần phải làm như vậy. Các câu chuyện được rút ra từ thực tế của bản thân TTV về những vấn đề liên quan sẽ rất có giá trị thuyết phục người được tuyên truyền.

(iii) Biết lựa chọn từ ngữ thích hợp và dụng ngôn ngữ cơ thể hợp lý. Ngôn ngữ được sử dụng trong tuyên truyền cần chính xác và đơn nghĩa, không dùng tiếng lồng, không dùng lời lẽ có tính châm chọc, xúc phạm người nghe. TTV không nên chứng tỏ sự vượt trội, uyên bác của mình bằng cách sử dụng những thuật ngữ chuyên môn mà người nghe không hiểu, lấy những dẫn chứng mà người nghe khó kiểm chứng. Việc dùng ngôn ngữ đơn giản, dễ hiểu, mộc mạc, chắc chắn sẽ lôi cuốn, thuyết phục được người nghe.

Ngoài ra, khi sử dụng ngôn ngữ nói hay viết, chúng ta đều cần đảm bảo giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Bởi tính chính xác, rõ ràng trong thông điệp truyền lệ thuộc chủ chuẩn mực trong sử dụng từ ngữ tiếng Việt. bu lon on tuyển yếu vào.

Khi tuyên truyền trực tiếp (với hình thức nói), TTV cần lưu ý về ngôn ngữ cơ thể: trang phục, trang điểm phù hợp với môi trường và điều kiện của người nghe; nét mặt, ánh mắt, giọng nói thể hiện sự chân thành, từ đó sẽ tạo được thiện cảm trước nhân dân và thuận lợi cho việc tuyên truyền.

(iv) Biết lắng nghe. Các TTV rất cần phải biết lắng nghe nhân dân, bởi chỉ khi “nghe dân nói” thì “nói dân (mới) hiểu, làm dân (mới) tin, như tư tưởng Hồ Chí Minh đã đúc kết. Trong hoạt động tuyên truyền, việc biết lắng nghe giúp cho TTV có điều kiện tiếp nhận, nắm bắt kịp thời các thông tin từ quần chúng, hiểu được những tâm tư, nguyện vọng chính đáng của họ, trên cơ sở đó phân tích thông tin để xây dựng thông điệp phản hồi/vận động một cách chính xác, có hiệu quả. Vì vậy, trước hết, TTV cần thăm hỏi, gợi ý các vấn đề liên quan để nhân dân cấp dưới có cơ hội trình bày ý kiến. TTV không được ngắt lời mà phải kiên nhẫn lắng nghe. Bên cạnh đó, việc tương tác bằng ngôn ngữ cơ thể của TTV như nhíu mắt, gật đầu. hay nói những câu bổ trợ: Dạ, vâng, xin ông/bà (anh/ chị) cứ tiếp tục nói sẽ có tác dụng truyền cảm hứng tích cực cho người được tuyên truyền bày tỏ quan điểm.

Hơn nữa, nếu đối tượng mà hoạt động dân vận hướng đến là những người nghèo, trình độ học vấn thấp thì họ thường rụt rè, ngại phát biểu. Vì vậy, TTV lại càng phải động viên, khuyến khích cho họ nói để hiểu được tâm tư của họ và không được phân biệt đối xử với người đưa ra ý kiến trái chiều. Chẳng hạn, đối với việc quy hoạch một khu công nghiệp, xây dựng một trung tâm thương mại, nếu TTV chỉ nghe các chủ đầu tư - đối tượng được hưởng lợi nhiều nhất, mà không lắng nghe thấu đáo ý kiến của những người dân phải di dời, thì có thể dẫn tới những nhận định phiến diện, nắm bắt thực trạng không đầy đủ, từ đó khó có thể vận động thành công.

(v) Xác định được vị trí là đại diện của cơ quan, tổ chức nhà nước. Trong công tác dân vận, lời nói của TTV là tiếng nói của người nhân danh Nhà nước, không phải là của riêng cá nhân người TTV, vì vậy phải thể hiện tính pháp chế, khách quan, nghiêm túc, nói có căn cứ pháp lý, không “tiền hậu bất nhất”, không hách dịch, không to tiếng, không tranh cãi, không đùa cợt. Lời nói trang trọng, lịch sự thể hiện sự tôn trọng nhân dân, làm tăng uy tín của bản thân người TTV và của cơ quan, tổ chức, phản ánh trình độ giao tiếp văn minh trong công vụ.

(vi) Tránh xung đột chính diện. Để giành thắng lợi trong vận động nhân dân hay thuộc cấp, nhiều người có thể phạm sai lầm là tìm cách chứng minh đối phương là sai. Điều này có thể làm tổn thương lòng tự trọng của người khác, gây mất lòng, không cải thiện được tình hình. Bên cạnh việc sử dụng ngôn ngữ bằng lời, TTV cần biết cách sử dụng ngôn ngữ cơ thể hợp lý để làm giảm sự đối đầu, từ đó tăng cường xu hướng hợp tác với người đối diện - một trong những điều kiện để vận động thành công.

3. Cũng như hoạt động giao tiếp nói chung, công tác dân vận vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật. Do vậy, việc các TTV không ngừng rèn luyện và hoàn thiện kỹ năng tuyền truyền thông qua việc tuần thủ các nguyên tắc thỏa mãn các yêu cầu đề cập bên trên, sẽ góp phần đáp ứng tốt hơn mục tiêu, nhiệm vụ của công tác dân vận trong các tổ chức đảng cũng như các tổ chức nhà nước. Nếu không làm tốt công tác dân vận thì các địa phương, cơ quan, tổ chức sẽ không nhận được sự ủng hộ, đồng thuận của quần chúng nhân dân, của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động. Điều này đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Dân vận kém thì việc gì cũng kém. Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công”. Chẳng hạn, trong thời kỳ dịch bệnh COVID - 19 diễn biến phức tạp hiện nay, nếu kỹ năng tuyên truyền trong công tác dân vận được phát huy tốt sẽ tạo nên sự an dân, đồng thuận xã hội, từ đó nhân dân sẽ thực hiện nghiêm các quy định phòng, chống dịch, cùng với Đảng, chính quyền các cấp vượt qua khó khăn trước mắt, từng bước đẩy lùi dịch bệnh và chiến thắng đại dịch./.

Theo PGS.TS. Tạ Thị Thanh Tâm, Tạp chí Dân vận - Tạp chí nghiên cứu lý luận và hướng dẫn nghiệp vụ của Ban Dân vận Trung ương Đảng,  số 10/2021, tr84.

Kho tư liệu chủ đề năm 2021

Bản quyền Cổng TTĐT: Quận Long Biên - TP Hà Nội.
Địa chỉ: Số 01, Vạn Hạnh, Quận Long Biên, TP Hà Nội.

Tel: (024) 38724033, Fax: 38724618
Email: ubnd_longbien@hanoi.gov.vn