Danh lam - Thắng cảnh

ĐỀN TRẤN VŨ PHƯỜNG THẠCH BÀN
Ngày đăng 03/10/2015 | 12:28  | Lượt xem: 1795

.

Đền Trấn Vũ có tên chữ là "Trấn Vũ Quán" hay "Hiển linh Trấn Vũ Quán". Đền nằm ngay sát phía trong đê sông Hồng thuộc xóm Đìa thôn Ngọc Trì xã Thạch Bàn huyện Gia Lâm, nay thuộc tổ 7 phường Thạch Bàn quận Long Biên.

Đền Trấn Vũ được xây dựng trên thế đất quy xà hội tụ và nhìn về hướng Bắc. Trên đồng có gò đất nổi lên được coi là hình rùa. Sau đền và chùa là đê sông Hồng, được coi là hình rắn ( hay rồng). Cũng rất dễ hiểu bởi theo sự tích thì thần Trấn Vũ đã thu phục được yêu rắn và yêu rùa, vì thế hình tượng Trấn Vũ có kèm hình rắn quấn trên thanh kiếm Thất Tinh chống trên lưng rùa. Bia đá tại đền đã cho biết "Ngày hoá, Diệu Lạc Thiên Tôn hoá phép, khiến Huyền Nguyên ngủ thiếp. Diệu Lạc liền moi hết ruột gan Huyền Nguyên, đem chôn ở núi Vũ Đương". Theo các nhà nghiên cứu thì Ngài đã chứng quả tu "Tâm không", tâm không còn vướng bụi trần – vô ưu ( không ưu phiền ).

Sự tích về Huyền Thiên Trấn Vũ có nhiều dị bản khác nhau, có truyền thuyết cho rằng: "Vào thời Tuỳ Khai Hoàng ( 617). Sau khi tu luyện đắc đạo ở núi Vũ Đương, Huyền Thiên thượng đế thường đi du ngoạn khắp nơi để thưởng thức cảnh đẹp thiên nhiên. Rất nhiều lần Ngài xuất hiện ở trần gian để tiễu trừ yêu ma cứu giúp dân lành. Ngài đến hồ Linh Động ở bên sông Nhĩ, hương Long Đỗ để diệt trừ yêu quái. Sau đó Ngài tiếp tục ngồi trên gò Kim Quy. Về sau nhân dân ở vùng này tưởng nhớ đến công ơn của Thần nên xây dựng Quán để phụng thờ...". Thời Đường do kiêng chữ Huyền đổi là Chân, thời Tống kiêng chữ Chân đổi là Trấn, do vậy thần còn có tên là Huyền Vũ Đế, Chân Vũ Đế hay Trấn Vũ Đế.

Sự tích tại đền Trấn Vũ ( Thạch Bàn) được khắc vào bia đá năm Mậu Thìn (1928) kể rằng: " Huyền  Thiên thượng đế vốn là một hoá thân của Ngọc Hoàng thượng đế giáng trần, tu theo đạo Phật và đắc đạo. Ngọc Hoàng thượng đế ra chiếu phong Ngài làm Vạn pháp giáo chủ, cai quản Tả ban huyền cai đại tướng, Hữu ban quan thánh đế quân cùng 36 viên thiên tướng tuỳ tùng giúp việc, lại còn được phong hiệu là Huyền Thiên thượng đế Đãng ma Thiên tôn vô lượng thọ Phật. Ngọc Hoàng còn ban cho Kim ấn Vương hư sư tướng, một thanh Thần kiếm Tam thai Thất tinh, 500 viên Linh đan.

          Hiện nay đền Trấn Vũ còn lưu giữ một tấm bia mang phong cách nghệ thuật Lê ( Thế kỷ XVII), văn bia đã mờ, chỉ còn thấy dòng chữ trên trán bia ghi   " Cự Linh tự  Trấn Vũ quán trùng tu bi ký" ( Bia ghi trùng tu chùa Cự Linh và quán Trấn Vũ). Như vậy vào khoảng thế ký XVII, đền Trấn Vũ đã được tu sửa.

          Một văn bia khác tại đền cho biết " Đến tiết Đông Chí năm Mậu Thân        ( 1788) khởi công đúc lại tượng đồng, lòng thành được chứng giám. Hai bên hợp lại, của cải sức dân vật dùng khôn kể. Đến tháng 8 năm Nhâm Tuất ( 1802) mọi người mới họp mặt thấy vàng bọc ngoài tượng lấp lánh, chất ngọc rực rỡ. Xét thấy có thể lưu truyền vẻ lẫm liệt muôn đời, thoả lòng mong đợi của dân khắp nơi".

          Bia lập ngày 3 tháng 3 năm Kỷ Mão niên hiệu Bảo Đại thứ 14 ( 1939) cho biết: " Xa xưa nơi đây đã lập đền thờ cúng, việc tu tạo đã quá lâu ngày, bởi vậy đã đến thời gian hư hại, xụp đổ. Vào năm Nhâm Thân niên hiệu Bảo Đại thứ 7          ( 1932) dân thôn xin tu sửa trang phục của tượng. Cựu lão Hội tư văn đứng ra xin tiền công đức để tu tạo Thượng cung, đến năm Ất Hợi ( 1935) dưới thời vua Bảo Đại tu sửa Trung cung, tiếp đó đến năm Mậu Dần triều vua Bảo Đại thứ 13           ( 1938) tân tạo cung thứ ba Tiền Đường..."

          Trên tổng thể các hạng mục công trình kiến trúc hiện nay thì ngôi đền Trấn Vũ được tu sửa và xây dựng lại hoàn toàn vào thời Nguyễn.

          Pho tượng đức Huyền Thiên Trấn Vũ là một trong hai pho tượng cổ bằng đồng lớn nhất hiện còn. Cùng với tượng Trấn Vũ ở đền Quán Thánh ( Ba Đình), tượng Trấn Vũ ở Thạch Bàn là biểu hiện rực rỡ của nghệ thuật tạo tượng lớn và kỹ thuật siêu việt trong nghề đúc đồng cổ truyền.

          Đây là pho tượng đúc liền khối bằng đồng thau, mặt ngoài có sơn thếp. Tượng cao 3,8m, chu vi 8m, nặng 4 tấn. Tượng Ngài  ở tư thế ngồi buông chân trên bệ, lưng thẳng, hai đùi để hơi doãng , đầu để trần, mặc áo long bào đen có đai và hai bàn chân không giầy. Tay Ngài để trước ngực, xoè ngón trỏ trong thế ấn quyết, gươm Thất tinh trong tay phải, mũi gươm chống trên lưng rùa. mắt Ngài nhìn thẳng đầy nhãn lực.

          Ngoài ra tại Thượng cung còn có tượng 12 nguyên soái. Đó là các thiên tướng theo Ngài đi trừ yêu quái, nay còn 10 pho, có 02 pho là nữ thần, xếp thành hai dãy sát tường chầu vào giữa. Các pho tượng được tạo bằng đất. Mỗi pho có vẻ mặt khác nhau như mặt ngựa, mặt chim, nhìn chung có nét hung dữ, kỳ quái như một đầu có nhiều mặt. Ngoài cùng là 02 pho tượng đá cùng phong cách 02 pho tượng đá ở toà Trung đường.

          Hiện nay đền Trấn Vũ còn thờ ghép cả đức thánh Linh Lang đại vương ( do ngôi đình của làng bị đổ). Ngoài ra đền còn lưu giữ được 04 bia đá cổ ghi sự tích, trùng tu đền Trấn Vũ; 01 bộ ván in của Đạo giáo, hệ thống hoành phi, câu đối tả cảnh đẹp của đền, ca ngợi công đức của thánh Trấn Vũ, ngai, bài vị và kiếm lệnh có phong cách nghệ thuật thế kỷ XVIII.

          Tại đền Trấn Vũ hàng năm vào ngày 3 tháng 3 âm lịch được tổ chức lễ hội gắn với ngày sinh của Ngài, ngày 9 tháng 9 âm lịch là ngày hoá của Ngài. Ngoài nghi thức thì Lễ hội đền Trấn Vũ có một trò chơi dân gian rất độc đáo, đó là trò kéo co luồn dây qua lỗ cột. Đây là trò chơi hiếm thấy ở nơi khác. Trò góp phần hào hứng không nhỏ vào lễ hội. Xưa kia trò chơi kéo co được tổ chức như sau: các giáp cử ra các tráng đinh có phẩm hạnh, gọi là giai kéo co, chia làm hai phe. Một phe gọi là mạn đường, phe kia gọi là mạn chợ. Giai kéo co đóng khố điều, chít khăn điều. Mỗi phe có một vị điều khiển gọi là tổng cờ. Tổng cờ mặc áo đỏ đội khăn đỏ. Làng cử vị tiên chỉ cầm trịch, dùng trống khẩu lệnh làm hiệu, Tiên chỉ mặc áo thụng xanh, đội mũ tế. Sau khi tề tựu ở đình, hai phe đi theo hai con đường riêng, vòng qua thôn, lên đền trình Thánh. Ở sân đền, hai phe xếp thành hai hàng dọc, hai tổng cờ đứng trước. Sau khi lễ Thánh xong, hai phe về đình và bắt đầu tiến hành kéo co. Vật để kéo là một dây song to, nhẵn, dài 30 m. Cột mốc là một cột trụ, thường là gỗ lim, cỡ cột đình. Thân cột đục một lỗ tròn để luồn dây song. Cột chôn chắc dưới đất, lỗ luồn dây ở ngang đầu gối người lớn. Trước khi kéo, dây song được nêm chặt ở lỗ cột. Giai kéo co ngồi chân co chân duỗi. Trong đội hình từng phe, lần lượt ngồi xen kẽ, người quay mặt bên này, người bên kia của dây. Mỗi người một tay duỗi thẳng, tay kia co trước ngực, dây được kẹp chặt dưới nách của tay co. Sau khi có hiệu lệnh bằng ba hồi trống khẩu, nêm được tháo ra. Hai tổng phất cờ hô " í a, kéo". Tổng cờ chạy lên chạy xuống, quệt lá cờ lệnh vào mặt các giai kéo của phe mình. Các bà, các cô, kẻ dùng quạt, kẻ dùng khăn lau mồ hôi cho người phe mình. Người ta còn bón cam, chanh cho giai kéo co. Không những thế, các bà, các cô còn lấy dầm khoét đất ở bàn chân giai kéo co. Nếu phe mạn đường thắng ( mạn gốc) thì được xem là năm đó làng được phúc lớn.

          Đền Trấn Vũ đã được nhà nước xếp hạng là di tích LSVH. Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, đền vẫn được bảo tồn. Theo kế hoạch dự kiến năm 2005, đền Trấn Vũ sẽ được tu bổ tôn tạo để xứng đáng là một danh lam của đất Long Biên – Hà Nội ngàn năm văn hiến và hướng tới kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội. Chắc chắn khách hành hương sẽ đến di tích ngày một nhiều hơn để tìm sự ấm áp của cội nguồn và vẻ đẹp muôn đời muôn thuở của quê hương Long Biên.