Danh lam - Thắng cảnh

MỘT VÀI SUY NGẪM VỀ TIẾP XÚC, GIAO LƯU VĂN HÓA VIỆT NAM VỚI VĂN HOÁ TRUNG HOA QUA NGHIÊN CỨU ĐỀN CỰ LINH ( TRẤN VŨ) PHƯỜNG THẠCH BÀN, QUẬN LONG BIÊN, HÀ NỘI
Ngày đăng 13/11/2015 | 09:56  | Lượt xem: 1819

.

I. ĐẶT VẤN ĐỀ:

Trải qua mấy nghìn năm lịch sử, văn hoá Việt Nam không những có bản sắc riêng được kết tụ, bồi đắp qua các thế hệ mà nó còn tiếp thu những tinh hoa văn hoá của nhân loại. Một trong những nền văn hoá lớn của thế giới mà chúng ta chịu ảnh hưởng nhiều nhất là văn hoá Trung Hoa. Đây là yếu tố khách quan để làm nên một bản sắc riêng của văn hoá Việt Nam. Theo " Cơ sở Văn hóa Việt Nam", Trần Quốc Vượng ( Chủ biên), Nxb Giáo dục, 1997 nhận xét: " Như vậy, giao lưu và tiếp xúc văn hóa là sự vận động thường xuyên của xã hội, gắn bó với xã hội nhưng cũng gắn bó với sự phát triển của văn hóa, là sự vận động thường xuyên của văn hóa".

Đạo giáo du nhập vào nước ta từ lâu đời, theo một số tư liệu lịch sử, cũng như kết quả nghiên cứu trong một số công trình nghiên cứu về Đạo giáo ở Việt Nam. Về cơ bản, con đường du nhập của Đạo giáo Trung Hoa vào đất Việt chủ yếu gắn với lịch sử xâm lược của đế chế Hán trên đất nước ta. Bên cạnh đó, còn phải thừa nhận, ngoài con đường này, Đạo giáo Trung Hoa còn xâm nhập vào nước ta qua một số con đường khác nữa, như quá trình di dân tự nhiên xuống phía Nam của một số tộc người thuộc vùng Hoa Nam (do sức ép dân số, nạn đói và sự bành trướng của đế chế Hán) cũng như con đường tiếp xúc, giao lưu, hội nhập văn hóa giữa các tộc người thời cổ. Và, theo đó, Đạo quán ở nước ta cũng được hình thành và phát triển khá sớm. Đương nhiên, để thích ứng và nhận được sự ủng hộ của tín đồ, Đạo giáo vào đất Việt buộc phải dung hội với những tín ngưỡng thuộc cơ tầng văn hóa bản địa, thậm chí "nhòe" cùng văn hóa bản địa.

Từ nhận định trên, xin được có một vài suy ngẫm về sự giao lưu, tiếp xúc văn hóa Việt Nam với văn hóa Trung Hoa thông qua nghiên cứu về đền Cự Linh ( phường Thạch Bàn, quận Long Biên, Hà Nội).

          II. NỘI DUNG VẤN ĐỀ:

  1. Nguồn gốc thờ thần Trấn Vũ ở Trung Hoa:

Theo quan điểm nghiên cứu của Mã Điền Thư, trong tác phẩm "Trung Quốc Đạo giáo chư thần" Hệ thần Đạo giáo Trung Quốc (2006), Nxb. Đoàn Kết thì hiện tại, trong truyền thuyết dân gian Trung Hoa, tồn tại rất nhiều thuyết khác nhau về nguồn gốc của Trấn Vũ/Chân Vũ. Qua nghiên cứu của công trình này, xin điểm lại một số  thuyết cơ bản giải thích về nguồn gốc của Trấn Vũ như sau:

- Trấn Vũ vốn là vị thần được hợp bởi khí thiêng của Đất và Trời (Âm - Dương). Thuở ban đầu, thần mang dáng vẻ của một đôi nam nữ đang quấn lấy nhau (ôm ấp nhau), tượng trưng cho sự "hợp nhất" của trời cha và đất mẹ. Đây là vị thần tình ái (thần tình yêu), rồi được chuyển hóa thành vị thần chiến đấu (chiến thần). Sau đó, hình tượng của thần lại được thể hiện dưới dạng rùa và rắn quấn nhau - Thần Trấn Vũ được hình hành từ đó, sau lại phân tách thành Quy, Xà nhị tướng (hai vị đại tướng dưới trướng của Huyền Thiên Trấn Vũ/Huyền Thiên Thượng Đế và cũng được xem như hóa thân của Ngài). Trong hình thức này, Đức Trấn Vũ chỉ là sự hợp nhất của hình tượng một con rắn dài quấn lấy thân một con rùa đen. Như vậy, theo thuyết này, Trấn Vũ là vị thần được hợp nhất bởi trời cha và đất mẹ, hay sự kết hợp của hai yếu tố Âm và Dương.

- Trấn Vũ/Chân Vũ, hay Huyền Vũ, được sinh ra bởi sự hợp nhất của 2 tộc người: Cổn (cha - thuộc hệ thủy thần), đại diện cho bộ tộc sùng bái rùa (coi rùa là vật tổ), kết hôn với Tu Dĩ (mẹ), đại diện cho bộ tộc sùng bái rắn (coi rắn là vật tổ). Chính vì vậy, sự kết duyên giữa Cổn và Tu Dĩ có thể xem như sự hợp nhất, hay "hôn phối" của tộc người sùng bái Rùa và tộc người sùng bái Rắn (hình tượng rùa và rắn quấn nhau), sau đó sinh ra Vũ, tức Chân Vũ. Đây cũng chính là hình tượng của chòm sao Huyền Vũ trong các hệ sao.

- Trấn Vũ có nguồn gốc thủy thần, sau được chuyển hóa thành vị thần mang dáng vóc của con người.

- Trấn Vũ, còn có tên gọi khác là Hắc Đế, Huyền Vũ, vốn là một con người cụ thể, bằng xương, bằng thịt. Trải qua quá trình tu luyện gian nan, có được các phép thần thông, sau được Thượng Đế phong làm vị thần cai quản phương Bắc.

- Trấn Vũ, tức Huyền Vũ chính là sự hợp nhất của 7 ngôi sao thuộc phương Bắc - chòm sao Huyền Vũ trong hệ Nhị thập bát tú. Huyền mang nghĩa là rùa, Vũ mang nghĩa là xà/rắn, do đó, 7 ngôi sao phương Bắc được gọi là Huyền Vũ, được thể hiện (mô hình hóa) dưới dạng rùa và rắn quấn nhau.

- Trấn Vũ vốn là hóa thân của trạng thái hỗn nguyên, sau đó hóa thânthành con của quốc vương nước Tịnh Lạc, nhưng không nối ngôi cha, bỏ vào núi Thái Hòa tu hành, khi đắc đạo được Thượng Đế phong làm Huyền Thiên Thượng Đế.

- Trấn Vũ là một hóa thân của Ngọc Đế, đầu thai làm con của hoàng hậu nước Tịnh Lạc. Khi lớn lên, Ngài không kế ngôi cha, bỏ lên núi tu hành, sau đắc đạo và được Thượng Đế giao cho nhiệm vụ trấn giữ phương Bắc và lấy hiệu là Huyền Vũ.

- Trấn Vũ (Huyền Vũ) là ảnh xạ của một chòm sao mang hình thú, là sản phẩm của tín ngưỡng sùng bái sao, sau được chuyển hóa thành hình tượng thú, bởi sự phát triển của tín ngưỡng sùng bái linh vật (các con thú thiêng) và quá trình cải biến tự nhiên của con người trong cuộc sống.

Đương nhiên, sẽ còn rất nhiều thuyết khác nữa đã tham gia vào việc lý giải về nguồn gốc của Trấn Vũ/Chân Vũ (Huyền Thiên Thượng Đế). Nhưng, một giả thiết để làm việc được chúng tôi tạm rút ra là, hiện tượng đa nguồn gốc của Trấn Vũ/Chân Vũ chỉ là sự phản ánh đa diện về các bước phát triển của tín ngưỡng dân gian này trong lịch sử. Qua đây, chúng ta có thể lý giải được phần nào về tính đa dạng của tục thờ này và cũng thấy được quyền năng vô tận của một vị thần chiếm vị trí không nhỏ trong tín ngưỡng dân gian.

          2. Một số vấn đề thờ Trấn Vũ ở nước ta và tại Thạch Bàn, Long Biên:

2.1. Tục thờ Trấn Vũ ở nước ta: xuất hiện ở nước ta khá sớm, theo truyền thuyết thì có thể manh nha từ thời nguyên thủy ( gắn với tín ngưỡng sùng bái sao và sùng bái linh vật), bắt đầu biến đổi mạnh mẽ từ thời An Dương Vương (thế kỷ III trước Công nguyên), gắn liền với khu vực Thành Cổ Loa. Sau đó, tục thờ này lan tỏa mạnh đến các khu vực khác, trong đó có khu vực Thăng Long xưa và có thể có một số địa điểm khác nữa, mà điển hình là các điểm, như Đền Quán Thánh, Quán - Chùa Huyền Thiên, sau đó là Đền Cự Linh ở Thạch Bàn, Long Biên, Hà Nội.

2.2. Xuất phát việc thờ Trấn Vũ ở Thạch Bàn, Long Biên, Hà Nội:

- Huyền Thiên Trấn Vũ là vị thần thường của các miền đất thấp. Khi Ngài nhập vào đất Việt đã hội tụ dần nhiều yếu tố văn hoá vượt ra ngoài bản chất khởi nguyên để trở thành một vị thần đa năng. Trong đó ít nhất với hai " Chức năng" chính, một là, vị thần trấn trị phương Bắc của kinh thành, chủ yếu với nhiệm vụ trừ tà sát quỷ, âm phù đánh giặc ngoại xâm và một số nhiệm vụ khác để giữ yên chốn đế đô. Hai là vị thần chống lầy, chống lụt. Khu vực Gia Lâm ( gồm cả Long Biên và Gia Lâm hiện nay) là vùng đất trũng, đầm lầy là yếu tố cơ bản cho việc hình thành thờ Trấn Vũ.

- Yếu tố trên đã lịch sử hoá bằng huyền thoại và cả thực tiễn trong việc thờ Trấn Vũ nơi đây. Văn bia "Trấn Vũ Điện bi ký", dựng năm Minh Mệnh thứ 7 (1826), hiện đang được bảo quản trong đền cho chúng ta biết: " Khi Lê Thánh Tông (1460 - 1496) đem quân dẹp giặc Chiêm Thành, ông đã dừng chân, nghỉ lại ở địa phận Cự Linh và được Trấn Vũ ứng mộng. Vua cảm thấy xúc động, liền sai dân lập đền thờ tại đây, đồng thời, cho tạc tượng gỗ cùng bài vị ghi: "Hiển Linh Trấn Vũ Quán". Vua lại gia ân, ban cho dân làng sở tại một số ruộng đất để phục vụ hương hỏa. Đến năm Đinh Sửu, niên hiệu Cảnh Hưng (1747), do tượng gỗ bị hư hoại, dân làng đã đúc tượng đồng thay cho tượng gỗ. Tuy nhiên, sau đó nhiều người đến đây chiêm bái vẫn cảm thấy tượng chưa xứng đáng với quy mô của đền. Do đó, đến năm Mậu Thân (1788), tượng đồng Trấn Vũ đã được huy động đúc lại, năm Nhâm Tuất (1802) thì hoàn thành. Tượng này, vẫn tồn tại đến tận ngày nay".

- Trong quá trình tôn thờ Trấn Vũ, người dân nơi đây còn chép lại huyền tích của Trấn Vũ gần như nguyên vẹn huyền tích của Trung Hoa và được khắc vào bia đá " Huyền Thiên Thượng Đế bi ký", khắc tháng 2 năm Mậu Thìn, niên hiệu Bảo Đại năm thứ 3 (1927), hiện đang được bảo quản trong đền.

2.3. Một vài nét về không gian và tượng thờ ở đền Cự Linh:

Khác với nhiều di tích cùng loại, đền Cự Linh ngoài yếu tố liên quan tới thần chống lụt, thì hiện tượng quay hướng Bắc cũng cho thấy tính chất trừ tà sát quỷ của thần. Về bố cục kiến trúc, mở đầu là một hồ nước mang tư cách não thuỷ/minh đường, điểm tụ linh - tụ phúc chung của mọi kiến trúc truyền thống... Một sân rộng dẫn vào toà tiền bái và điện thần, đó là các kiến trúc được đặt trên nền cao. Đền đã được tu bổ lớn trong thời gian gần đây, chủ yếu theo hình thức bào trơn đóng bén... nên giá trị nghệ thuật vừa phải, tuy nhiên dáng đền vẫn cao vừa độ, khiêm tốn để phản ánh tư tưởng " hoà" của tổ tiên ( nhập vào thiên nhiên vũ trụ, ẩn vào trong cây cối, nương bang thần linh mà tồn tại). Một chi tiết đáng quan tâm khác: tuy là đền, nhưng ít nhiều đền có bố cục của đình với gian lòng nước ( ở giữa) thấp hơn hai bên, như đã phản ánh một sinh hoạt tinh thần khá sầm uất của một số tín đồ có học, có vai vế trước đây.

          Theo trục thần đạo là một bàn thờ ở gian giữa. Ban thờ tuy đã cũ, ít được chăm sóc, nhưng hoa văn còn để lại ở đây thoáng gần gũi với những nét chạm của nghệ thuật thuộc thời Cảnh Hưng và Tây Sơn ( cuối thế kỷ XVIII), mặt nào tương đồng với ban thờ của chùa Tây Phương ( Hà Nội).

          Vượt qua những đồ thờ khác như ngai, bài vị, bát bửu quen thuộc như ở các ngôi đền khác, thì ở đây nổi lên là hệ thống tượng. Trước hết là những tượng tướng chầu hầu bằng đá với dáng lùn như không " cân đối", hình thức tỏ rõ thái độ nghiêm chỉnh, tay cầm vũ khí ốp sát người. Đây là những tác phẩm đạt giá trị nghệ thuật khá cao, với vẻ đẹp có nét đột ngột, phần nào tự nhiên, đó là sản phẩm kế thừa gần gũi của những tượng cùng loại thuộc niên đại thế kỷ XVII đầu XVIII. Ở hậu cung hiện để các tượng đáng quan tâm hơn cả. Trung tâm là pho tượng Huyền Thiên khá lớn bằng đồng. Truyền lại được đúc vào năm 1747         ( Cảnh Hưng thứ 8), đến năm 1916 được trau chuốt, sơn thếp cho đầy đủ như hiện nay.

          Hai bên sườn của hậu cung là hệ thống tượng đắp bằng đất luyện, cao xấp xỉ người thực đều mặc áo thụng đơn giản. Theo sự giới thiệu của nhà đền thì hai pho trong cùng được gọi là Thánh phụ và Thánh mẫu, đều đứng nhìn vào giữa, khuôn mặt chưa già, nhất là không được đề cao để cùng có hướng nhìn với Thánh và vị trí sắp xếp lại không đúng theo luật âm dương. Hai tượng này, ngờ rằng không phải là tượng cha mẹ của Thánh, mà thực sự chỉ là dạng tượng thị giả. Tiếp phía ngoài với mỗi bên còn 4 tượng tướng phụ tá ( truyền lại trước đây có tất cả 12 pho). Về hình thức, cả 8 tượng đều đậm chất nghệ thuật dân gian, sản phẩm của tạo hình vào thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, tất cả đều như muốn nhấn đậm sức mạnh thiên thần tiềm ẩn nào đó, để có pho tay trong thế tấn và mặt gồ ghề với mũi mồm nhô ra như mỏ chim, rồi cằm chẻ đôi... Có pho 3 đầu hoặc 3 đầu 8 tay... Nhìn chung yếu tố đạo giáo với tư duy liên tưởng mang nhiều đặc tính " phù thuỷ" đã gợi cho những người yêu nghệ thuật dân gian, được tiếp cận với một số sản phẩm văn hoá không bài bản, khiến họ vô cùng thích thú ( đặc biệt với khách du lịch văn hoá trong và ngoài nước).

Với pho tượng Thánh, với chất liệu đồng thau, trong tư thế ngồi trên bệ buông chân, tay trái bắt ấn co ngang rồi khép trước ngực, tay phải tỳ trên đốc kiếm cắm thẳng xuống lưng con rùa. Trên thân kiếm, một con rắn đang cuốn leo lên. Tượng có đầu tròn, tai to, mặt đầy đặn, tóc ốp sát đầu, mắt kính, mũi cân phân, miệng ngậm, râu sợi cắm... Áo ít nếp, điểm xuyết không nhiều hoa văn, như hổ phù là dạng hoa lá cách điệu ( đầu gối); hoa văn tổ ong nổi ( cánh bắp tay), hoa lá thiêng ( diềm áo), rồi long mã ( bổ tử)... Đi sâu vào nghệ thuật, pho tượng này gần như đồng dạng với tượng ở đền Quan Thánh, phần nào cũng tương đồng về bố cục với những tượng chùa Huyền Thiên ( tuy nhiên mặt tượng Cự Linh có nét hiền hơn). Tất cả hội lại để nhấn sâu về một nội lực thánh thiện tiềm ẩn, khiến tín đồ tự tâm tin tưởng. Nhìn chung đây là một pho tượng đẹp, tuy nhiên người xem vẫn cảm thấy hoa văn trên tượng như không thống nhất cùng một niên đại, cụ thể là các hình lá sòi vân soắn ( cổ áo, cổ tay áo), hình hoa tổ ong, hổ phù, kiếm, rùa rắn, các hạt nổi, một số lá cúc cách điệu... được thể hiện khá ấm áp chuẩn mực, trau chuốt... Một số khác như long mã, hoa lá diềm áo lại tỏ ra có phần gai góc... Ngoài ra hình thức mắt kính và râu sợi cắm thường có niên đại khá muộn... Đó là một vấn đề còn tồn nghi.

3. Một số nét tương đồng và khác biệt trong mối giao lưu giữa văn hoá Việt Nam với văn hoá Trung Hoa thông qua việc thờ Trấn Vũ ở đền Cự Linh:

3.1. Một số nét tương đồng:

- Sự tích Trấn Vũ tại đền Cự Linh là việc ghi lại gần như nguyên bản sự tích Trấn Vũ ở Trung Hoa, trong đó ghi rõ lai lịch của Trấn Vũ là một hồn của Ngọc Hoàng Thượng Đế xuống trần tu hành, đi trừ yêu quái, thu phục yêu rắn và yêu rùa. Xin được trích lại một đoạn văn bia "Huyền Thiên Thượng Đế bi ký", khắc tháng 2 năm Mậu Thìn, niên hiệu Bảo Đại năm thứ 3 (1927) ghi chép về sự tích Đức Thánh như sau: "Huyền Thiên Thượng Đế Ngọc Bệ hạ vốn là một hóa thân của Ngọc Hoàng Thượng Đế. Ngài có công diệt trừ tà ma, tu theo đạo Phật và đắc đạo. Sau đó, Ngài được Ngọc Hoàng Thượng Đế phong làm "Vạn Pháp giáo chủ", Đãng Ma Thiên Tôn Vô Lượng Thọ Phật, cai quản Tả ban Huyền Đàn đại tướng, Hữu ban Quan Thánh Đế Quân, 36 viên thiên tướng, được ban ấn Ngọc Hư Sư Tướng và kiếm Tam Thai Thất Tinh cùng hơn 500 viên hỏa đan để hàng phục yêu quái dưới trần gian. Hàng năm, vào đúng ngày mùng 9 tháng 9 và ngày 25 tháng Chạp, Ngài cùng các bộ tướng xuống hạ giới, kiểm soát dân chúng, xét việc thiện, ác...".

- Hình tượng Trấn Vũ trong tư thế ngồi, chống kiếm Thất tinh trên lưng rùa, thân kiếm có rắn quấn là hình tượng Trấn Vũ phỏng theo phong cách tượng Trấn Vũ ở nhiều ngôi đền Trung Quốc.

- Đặc biệt biểu tượng cầm kiếm Thất tinh, mình khoác áo bào đen và hình tượng rùa, rắn là hình tượng gắn với Trấn Vũ từ thời nguyên thuỷ.

- Hình tượng các thần tướng thờ phụ với Trấn Vũ có tướng mạo khác thường và được truyền rằng là Thiên tướng theo Trấn Vũ đi thu trừ yêu quái là những nét đặc trưng của Đạo giáo Trung Hoa.

- Hướng đền quay về Bắc là hướng gắn với Trấn Vũ và bao giờ, ở đâu khi thờ Trấn Vũ thì vị trí đặt tượng cũng tại vị trí trung tâm – quan trọng trong đền.

3.2. Một số nét khác biệt:

- Đền Cự Linh mặc dù quay hướng Bắc nhưng kết cấu kiến trúc có gian lòng thuyền. Đây là dáng dấp của không gian ngôi đình làng Việt cổ truyền.

- Tượng Trấn Vũ có nét mặt Việt, tóc không để xoã như ở Trung Quốc và nhiều ngôi đền khác của Việt Nam như đền Quán Thánh là một điển hình.

- Trong đền có cả tượng Chử Đồng Tử ( mặc dù Chử Đồng Tử gắn với Đạo giáo) và sau này người dân còn thờ cả tượng Linh Lang đại vương. Đây là nét đặc trưng của người Việt nói chung, đền Cự Linh nói riêng trong việc phối thờ các vị thần bản địa. Đó cũng là nền tảng để Trấn Vũ được tôn thờ tồn tại nơi đây.

- Theo 2 bia Công đức ( 1928 và 1939) của đền Cự Linh ( Bùi Thế Quân - dịch), thì ngay ở các dòng đầu của bia, người đương thời đã có ý thức đưa Huyền Thiên Thượng đế vào không gian của nhà Phật. Bia năm 1928 cho biết: Ngọc Hoàng thượng đế đã phong Ngài là " Huyền Thiên Thượng Đế, Đãng Ma Thiên Tôn Vô Lượng Thọ Phật" ( Mà Vô Lượng Thọ Phật là một danh xưng của Phật A Di Đà). Câu đầu của bia 1939 cũng ghi " Cung bái Huyền Thiên Thượng Đế Vô Lượng Thọ Phật". Trong bia còn ghi " Khi sinh, Ngài tự chui qua đằng nách, sau đó chín con rồng từ trên trời xuống phun nước tắm cho Ngài". Đây là Tích Phật. Nhưng để thấy rõ sự hoà đồng giữa Phật và Đạo giáo thì có sự đồng nhất với Thích Ca sơ sinh. Hiện tượng Phật giáo hoá các ngôi quán Đạo giáo đã khá phổ biến ở nước ta, nhất là từ thế kỷ XVII về sau. Thông thường người ta đã chuyển Quán thành Chùa, đem tượng Phật giáo vào thờ trong Quán..., kể cả quán Huyền Thiên ở phố Hàng Khoai. Nhưng ở các nơi đó Phật là Phật, Thánh là Thánh. Thì ở đây, Thánh, Phật lại như đồng nhất, có lẽ hình thức này ít gặp ở Trung Hoa. Cũng theo nội dung các bia này thì ngoài một số tích bắt nguồn từ phương Bắc như nêu trên, Huyền Thiên đã nhiều lần xuống hạ giới, để thu phục yêu quái ở trần gian giữ yên bình cho cuộc sống. Ngài cũng đã được hội nhập với thần Kim Quy để giúp An Dương Vương trừ Bạch Kê, xây thành Cổ Loa, giữ yên bờ cõi... " Bước đi" của Huyền Thiên trong tâm thức quần chúng đã chuyển hoá Ngài từ một thần có gốc từ Trung Hoa thực sự thành một thần Việt, vì dân vì nước mà tồn tại. Nhìn chung cũng như một số thần linh khác, tích truyện Trung Hoa ở đây chỉ được coi như bệ đỡ để làm sáng tỏ cho một Huyền Thiên Việt đích thực gắn với gắn với nền nông nghiệp lúa nước phương Nam, nhất là khi Ngài chuyển tên từ Chân Vũ sang Trấn Vũ. Nhà nghiên cứu Hán Nôm – Hoàng Giáp cho biết rằng: Rùa và rắn có vảy giáp, được coi là Vũ, nên Trấn Vũ cũng có nghĩa là trấn áp thu phục rùa và rắn.

III. KẾT LUẬN:

- Thông qua việc thờ Trấn Vũ ở đền Cự Linh ( Thạch Bàn, Long Biên) thấy rằng đây là một điển hình tiêu biểu trong mối giao lưu giữa văn hoá Việt Nam với văn hoá Trung Hoa.

- Nhân dân Việt Nam không những tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hoá đó mà còn biến nó để trở thành bản sắc riêng của dân tộc.

- Trong thời kỳ hiện nay, chúng ta đang hội nhập quốc tế, việc giao lưu, tiếp biến văn hoá nhân loại là cần thiết, khách quan để phát triển về kinh tế, văn hoá, xã hội. Một trong năm quan điểm chỉ đạo của Nghị quyết TW 5 khoá VIII của Đảng đã chỉ đạo: " Văn hoá vừa là nền tảng tinh thần vừa là động lực để thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội".

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Đào Duy Anh (2002), Việt Nam văn hoá sử cương, Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội.

2. Trần Lâm Biền (2003), Đồ thờ trong di tích của người Việt, Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội.

3. Trần Lâm Biền (2003), Một con đường tiếp cận lịch sử, Nxb Văn hóa dân tộc.

4. Trần Lâm Biền (2008), Diễn biến kiến trúc truyền thống Việt vùng châu thổ

Bắc Bộ, Nxb Văn hóa thông tin.

5. Cadlère, L. (1997), Về văn hóa và tín ngưỡng truyền thống người Việt, Bd, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội.

6. Cục Di sản văn hóa (2005), Một con đường tiếp cận di sản văn hóa, tập 1,2 Nxb Thế giới.

7. Trần Anh Đào (1999), Tín ngưỡng Huyền Thiên Chân Vũ qua một số quán thờ ở Hà Nội, Tài liệu viết tay, Tư liệu Viện Nghiên cứu tôn giáo.

8. Hồ sơ xếp hạng di tích Đền Trấn Vũ - Gia Lâm (1990), tư liệu Cục Di sản văn hóa.

9. Hồ sơ xếp hạng di tích Đền Quan Thánh (2002), tư liệu Cục Di sản văn hóa.

10. Hồ sơ xếp hạng di tích Quán - Chùa Huyền Thiên (2007), tư liệu Cục Di sản văn hóa.

11. Nguyễn Thế Hùng, Đinh Khắc Thuân (2001), "Vài nét về quán Đạo ở Việt Nam trong lịch sử", Khảo cổ học, (2), tr. 92 - 100.

12. Nguyễn Thế Hùng (2002), Quán Đạo giáo ở Hà Tây, Luận văn tiến sĩ, Tư liệu Cục Di sản văn hóa.

13. Vương Khả (1999), "Lược sử Đạo giáo Việt Nam", Văn hóa dân gian, (2), tr.76 - 88.

14. Bùi Thế Quân (2010), "Một vài ẩn số trong các di tích và lễ hội truyền thống trên địa bàn quận Long Biên, Hà Nội", Di sản văn hóa, (30), tr.

15. Ngô Đức Thịnh (chủ biên) (2001), "Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam", Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

16. Ủy ban nhân dân quận Long Biên (2008), Di tích lịch sử văn hóa và cách mạng kháng chiến quận Long Biên, Nxb Chính trị Quốc gia.

17. 马书田(1996),忠国道教诸神,团结出版社.

18. 商务印书馆(1983),辞源,商务印书馆出版.

19. 李振纲(主编)-孔令宏(著)(1999),中国道教史话,河北大学出版社.

20. 老子,道德经(竖排繁体),华夏出版社,2009.