Danh lam - Thắng cảnh

CHÙA TƯ ĐÌNH PHƯỜNG LONG BIÊN
Ngày đăng 27/10/2015 | 15:35  | Lượt xem: 2827

.

Chùa Tư Đình là cách gọi theo tên địa danh thôn Tư Đình, nay thuộc tổ dân phố số 4  phường Long Biên. Dưới thời Lê thuộc xã Cổ Linh, tổng Cự Linh, huyện Gia Lâm, phủ Thuận An, trấn Kinh Bắc. Đến thời Nguyễn thành lập đơn vị hành chính cấp tỉnh, do vậy xã Cổ Linh thuộc huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh. Sau năm 1945 xã Cổ Linh được đổi là Long Biên. Một thời gian thuộc quận 8 ngoại thành Hà Nội. Từ năm 1961 thuộc huyện Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội. Từ năm 2004 đến nay thuộc phường Long Biên, quận Long Biên, nội thành Hà Nội.

Ngôi chùa nằm phía trong đê sông Hồng khoảng 100 m. Từ phía bắc cầu Chương Dương xuôi theo đê sông Hồng, khoảng 4 km là tới địa phận Tư Đình, rẽ trái là đến chùa.

Ngôi chùa hiện nay nằm chếch về phía Bắc cách đình khoảng 400m. Chùa được xây dựng trên một thế đất cao, rộng rãi ven khu dân cư. Các hạng mục công trình kiến trúc chính bao gồm Tam quan, vường tháp, nhà Tổ và Tam Bảo. Toà Tam bảo có kết cấu hình chữ Đinh gồm Tiền đường, nhà cầu và Thượng điện.

Nhà Tiền đường gồm 5 gian xây gạch, kiểu tường hồi bít đốc tay ngai, mái lợp ngói ta. Chính giữa bờ nóc xây hoành phi nhỏ để ghi tên chùa bằng chữ hán   "Sùng Khánh tự". Mặt trước Tiền đường là hàng hiên rộng 2m, mái đỡ hiên là hệ bẩy nối giữa cột quân và cột hiên. Thượng điện là một lớp nhà chạy dọc với 4 gian không đều nhau và có khung chịu lực với hai bộ vì khác nhau.

Điêu khắc trên kiến trúc chùa Sùng Khánh được thể hiện khá đơn giản, bộ khung của toà Tam bảo được bào trơn kẻ soi, một số con rường được chạm hoa văn dạng lá lật, rồng lá, vân mây bằng kỹ thuật chạm nổi, bong kênh. Các đầu bẩy có chạm hình rồng lá. Toà Tam bảo được trùng tu năm 2004 và khánh thành năm 2005.

Nhà tổ được tu bổ năm 2002, nằm ở bên phải toà Tam bảo qua một khoảng sân. Phía trái, sát với đầu hồi Tiền đường là mộ tháp thờ xá lỵ các vị tổ đã từng trụ trì tại chùa.

Cùng năm 2002, nhà chùa cho xây Tam quan, hướng ngoảnh ra đê sông Hồng, tiếp giáp với đường của khu dân cư. Tam quan được xây bằng gạch với hai tầng và chia làm ba cửa biểu hiện cho Không quan, Trung quan và Giả quan mang tính chất Phật triết.

Phần lớn nghệ thuật tạo tác tại di tích được thể hiện chính thông qua tạo tác tượng tròn. Tượng chùa Sùng Khánh có kích thước tương đối lớn và có niên đại vào thế kỷ XVII. Tượng được tạo tác ngồi trên đài sen với những cánh sen mập. Đặc biệt trên ngực tượng để trần và lộ rõ anh lạc.

Trên cùng của toà Thượng điện là bộ tượng Tam thế, hiện thân của ba đại kiếp (quá khứ, hiện tại và vị lai). Bộ tượng này có rất nhiều tên gọi khác nhau nhưng chủ yêu có hai tên cơ bản. Đó là Tam thế thường trụ diệu pháp thân hay tên khác là Tam thế tam thiên Phật. Ba pho tượng là đại diện cho ba ngàn vị phật ở ba đại kiếp. Thường trụ là thường tồn, diệu là đẹp đẽ, linh thiêng, pháp thân là Phật bất biến.

Tiếp hàng thứ hai là bộ tượng Di đà Tam tôn hay còn gọi là Tây phương Tam thánh. Ở giữa là tượng A di đà, hiện thân của đại trí, đại tuệ, đại hùng, đại lực, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả. Nguồn ánh sáng trí tuệ từ Ngài chiếu ra không có gì ngăn cản được để diệt trừ mọi ngu tối, vô minh đồng nghĩa với tội ác. Hai vị Quan Thế âm bồ tát và Đại Thế chí bồ tát trợ thủ hai bên.

Hàng thứ ba là bộ tượng Thích ca hành đạo gồm tượng Thích ca và hai vị trợ thủ hai bên là Văn thù sư lợi và Phổ hiền bồ tát.

Hàng tượng thứ tư là Ngọc hoàng và Nam tào, Bắc đẩu. Hàng cuối cùng là toà Cửu long, với tượng Thích ca sơ sinh. Với một tuyên ngôn về Phật đạo " Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn" ( Trên trời dưới trời chỉ có ta tức Phật, trí tuệ mang tính đại ngã, là cao quý hơn cả).

Hai bên góc tường toà Thượng điện có tượng Quan âm chuẩn đề và Quan âm Toạ sơn.

Ở phía bên phải Tiền đường đặt tượng đức Thánh tăng, hiện thân một ngôi báu trong Tam bảo đồng thời là hiện thân của Đại đệ tử thứ hai ( A nan đà), trợ thủ hai bên có Diện nhiên mặt quỷ và Đại lực sĩ. Phía trái Tiền đường có ban thờ Tượng đức ông với hai trợ thủ là Già lam và Chân tể.

Hiện nay chùa Sùng Khánh còn lưu giữ được 03 tấm bia hậu. Trong những tấm bia đó có tấm bia mang niên hiệu Tự Đức thứ 31 (1878) là nguồn tư liệu quý tại chùa cho ta biết được việc tu bổ di tích trong giai đoạn này. Ngoài ra chùa hiện còn lưu giữ 7 bức hoành phi, 8 đôi câu đối, hai y môn chạm nổi trúc lão, mai lão, bát bửu của đạo Phật, 6 chân đèn gióng trúc, hai cuốn thư chạm điểu thế kỷ XIX, một chuông đồng thời Nguyễn. Thông qua hệ thống tượng tròn ở chùa Sùng Khánh phần nào đã góp phần hiểu thêm về lịch sử mỹ thuật, nghệ thuật điêu khắc Phật giáo Việt Nam thế kỷ XVII - XVIII.

Đến với di tích chùa Sùng Khánh, khách hành hương có thể chiêm ngưỡng vẻ đẹp rất đa dạng trên hệ thống tượng thờ. Chính ở điểm này mà chùa Sùng Khánh được bộ VHTT xếp hạng di tích lịch sử văn hóa năm 1991.