di tích lịch sử

Đình Xuân Đỗ Thượng phường Cự Khối, quận Long Biên
Ngày đăng 08/06/2017 | 08:02  | Lượt xem: 756

Đình làng với tư cách là một trong những thành tố cấu thành nên di sản văn hoá, trải qua thời gian đã trở thành một trong những biểu tượng văn hoá làng của người Việt. Đây chính là nơi sinh hoạt văn hoá tâm linh của cộng đồng dân cư. Nhìn vào ngôi đình, chúng ta có thể thấy lịch sử - văn hóa của dân tộc ẩn tàng trong đó. Đình Xuân Đỗ Thượng chính là một ngôi đình như thế.

Trong thời kỳ Bắc thuộc, nơi đây là một bộ phận của vùng đất Long Biên; thời Lý thuộc phủ Thiên Đức, thời Trần thuộc lộ Bắc Giang thời Hậu Lê thuộc phủ thuận An, trấn Kinh Bắc. Năm 1961 được sát nhập về thủ đô Hà Nội. Ngôi đình hiện tại tọa lạc tại tổ 10 phường Cự Khối, quận Long Biên.

Đình Xuân Đỗ Thượng thuộc loại hình di tích lịch sử - nghệ thuật, căn cứ vào các tư liệu và hiện vật hiện có đình được khởi dựng vào thời Nguyễn, ngôi đình hiện tại vẫn còn bảo lưu được nhiều giá trị vật thể và phi vật thể và được nhân dân trong làng bảo tồn và phát huy giá trị theo truyền thống.

Đình tọa lạc giữa khu dân cư, nhìn theo hướng Đông Nam với khuôn viên khá rộng và thoáng mát, đặc biệt bên hữu đình là giếng nước sinh thái, điểm xuyết những hàng cây soi mình in bóng lấp lánh trên mặt nước, tạo nên một cảnh quan thơ mộng, trong lành, khoáng đạt, tôn thêm vẻ đẹp cho di tích. Đình gồm các hạng mục chính Nghi môn, Đại bái và Hậu cung trên mặt bằng tiền nhất hậu đinh.

Bước xuống chân đê chừng vài mét là tới nghi môn của đình, được làm theo kiểu trụ biểu với ba lối đi. Đây là kiểu thức phổ biến ở các di tích truyền thống. Lối đi chính giữa gồm hai trụ biểu lớn, đỉnh trụ đắp tứ phượng chầu tựa trái rành. Bên dưới là ô lồng đèn trang trí tứ linh, tứ quí. Thân trụ soi gờ kẻ chỉ đắp nổi đôi câu đối chữ Hán. Đế trụ thắt cổ bồng. Từ  hai trụ lớn cách lối đi là sang trụ biểu nhỏ ở đây không xây tường lửng mà để độc lập lấy các cột trụ để chia khoảng cách lối đi vì từ nghi môn qua khoảng sân rộng mới đến tòa đại bái.

Đi qua một khoảng sân lát gạch bát là tới Đại đình. Tòa Đại đình là ngôi nhà ngang bề thế kết cấu 3 gian 2 chái với bốn mái đao cong. Chính giữa bờ nóc là hình tượng lưỡng long chầu nguyệt đắp bằng chất liệu nề ngõa với các đường nét sống động, hai bên là đôi rồng chầu vào giữa với hình tượng hổ phù đội mặt nguyệt.Thân rồng uốn lượn như những con sóng nước, đuôi rồng xoắn lại rồi tỏa ra những đao mác. Hai đầu bờ nóc đắp hình tượng  đầu rồng, miệng ngậm bờ nóc, đuôi rồng uốn lại tựa như bánh xe luân hồi. Bốn bờ dải trang trí nghê cách điệu và rồng chạy xuống bốn đầu đao và hướng lên nền trời. Mái đình lợp ngói mũi hài, từ  mũi ngói có hoa văn khắc vạch tỏa ra như những tia nắng mặt trời. Nhìn từ xa, bộ mái đình xòe rộng, bốn đầu đao vút cong như con thuyền lớn đang bay trong không gian.

Từ ngoài nhìn vào mặt tiền của đình là bộ cửa bức bàn tương ứng với ba gian được làm theo kiểu thượng song hạ bản. Hai gian chái quây kín có trổ cửa hình tròn với chữ Thọ cách điệu.

Từ sân bước lên từng bậc tam cấp dẫn lên hiên đình, qua khoảng hiên chừng 1m bước qua ngưỡng cửa đình thì vào không gian bên trong đình. Có lẽ người xưa làm bậc tam cấp và ngưỡng cửa đình đều có dụng ý. Khi lên từng bậc ngũ cấp dẫn vào trong đình bước chân người đến chiêm bái di tích sẽ chậm lại, tâm lắng lại, rũ bỏ toan tính đời thường chuyển tâm thế chuẩn bị vào lễ Thánh. Ngưỡng cửa đình được coi như sự ngăn cách không gian bên trong đình - nơi Thánh thần ngự trị và không gian bên ngoài đình vẫn còn nhiều dư âm đời sống trần tục.

Không gian bên trong tòa Đại bái đình Xuân Đỗ Thượng nền đình lát gạch bát. Tương ứng với các gian Đại bái là các bộ vì liên kết theo cách thức khác nhau: Bốn bộ vì gian giữa kiểu "Thượng chồng rường con nhị, hạ chồng rường, bảy hiên"; gian bên kiểu "Thượng chồng rường con nhị, hạ kẻ ngồi, bảy hiên". Nối hai đầu cột cái là câu đầu to khỏe, tì lực trên đầu dư chạm rồng. Trên đầu dư là các con rường chồng qua đấu kê vuông thót đáy, riêng con rường áp câu đầu cắt lửng - biến bộ vì thượng thành chồng rường con nhị. Từ thân cột cái nối sang đầu cột quân là xà hạ bằng kỹ thuật ăn mộng. Trên xà hạ là các con rường chồng khít lên nhau đối với bộ vì gian giữa, là kẻ ngồi đối với bộ vì gian bên và gian hồi. Sở dĩ các xà hạ có thể đảm bảo chức năng đỡ các cấu kiện của vì hạ bởi ngoài ăn mộng vào thân cột cái và đầu cột quân còn được đỡ bởi nghé. Nghé này ăn mộng thẳng qua thân cột quân, vươn ra đỡ ván và hoành mái hiên.

Nhìn chung, các cấu kiện của bộ vì các gian đại bái đình Xuân Đỗ Thượng, mặc dù được làm bằng chất liệu bê tông nhưng nhìn tổng thể ngoài chức năng đảm bảo liên kết, chịu lực cho công trình còn được đắp vẽ trang trí các đề tài rồng cuộn mây, lá lật tứ linh tứ quý, hoa văn chữ thọ … Đây là những câu chuyện của người xưa muốn gửi gắm vào tâm hồn "Việt" với sự tri ân, kính ngưỡng đối với đức thành hoàng.

Từ đại bái qua khoảng sân có mái tre bằng tôn (không phù hợp) các cụ cho biết chính tại khoảng trống này đã hiện hữu hạng mục nhà Phương đình nhưng đã bị phá hủy đến nay nhân dân vẫn chưa có điều kiện để phục dựng. Hậu cung là một hạng mục tách biệt nhìn bên ngoài. So với tòa Đại bái thì hạng mục này diện tích và kết cấu khiêm tốn hơn. Bộ mái Hậu cung kết cấu hai mái, bít đốc, lợp ngói ta. Nóc mái chính giữa đề 3 chữ Hán "Kiệt trung từ " Vào bên trong Hậu cung gồm 1 gian, 2 chái, bộ vì gian giữa được làm kiểu vì kèo quá giang. Ngăn cách giữa phần ngoài và phần trong là ba cửa. Cửa giữa làm theo kiểu bản lề, chỉ mở khi làng vào đám. Hai cửa nách nhỏ hơn, làm theo kiểu bản lề. Vào bên trong là bộ vì đỡ mái làm theo kiểu "Ván bưng". Bên dưới được xây bệ thờ đặt ngai thờ, và bài trí các đồ thờ bát hương, mâm bồng, đài nước, đỉnh đồng, giá văn, lọ hoa...

Giếng đình được nằm về phía bên hữu của đình là một giếng cổ, hình vuông, các cụ cao niên kể giếng cổ xa xưa nước trong xanh quanh năm. Tương truyền đây là nơi cung cấp nước sinh hoạt cho người dân Xuân Đỗ Thượng. Nhìn ở góc độ tâm linh thì giếng chính là điểm tôn phong, tạo sự đăng đối cho di tích.

Ngôi đình hiện tại còn bảo lưu được một hệ thống các di vật và đồ thờ tiểu biểu như hệ thống văn bia, hoành phi, câu đối và các đồ thờ mang đậm dấu ấn lịch sử, là các tư liệu minh chứng cho sự tồn tại của ngôi đình.

Ngoài ra ngôi đình còn là trung tâm sinh hoạt văn hoạt tín ngưỡng cộng đồng làng xã, đối tượng tưởng niệm chính là Thành hoàng. Thành hoàng làng là chỗ dựa tinh thần, nơi người dân gửi gắm niềm tin, ước vọng vị thần sẽ phù hộ họ vượt qua bao khó khăn, thử thách trong cuộc sống. Mỗi người dân tin rằng nếu mọi thành viên trong làng xã luôn kính lễ thần thì thần sẽ ban phúc ấm cho muôn nhà. Vì vậy, từ xa xưa người dân Xuân Đỗ Thượng đã luôn thành tâm tổ chức lễ hội tưởng niệm vị thành hoàng để tỏ lòng kính ngưỡng. Tuy không còn duy trì được tuyệt đối những nghi thức như xưa, xong lễ hội Xuân Đỗ Thượng vẫn là một trong những lễ hội với các nghi thức tế thành hoàng trang nghiêm,  người dân vào dịp hội làng dù ở xa đâu cũng cố gắng thu xếp mọi công việc để về tham dự. Lễ hội chính trong năm của Xuân Đỗ Thượng hiện nay vẫn diễn ra vào dịp tháng Hai âm lịch, Lễ hội đình Xuân Đỗ Thượng diễn ra vào trung tuần tháng 2 âm lịch, từ ngày 09 đến ngày 11 tháng 2 âm lịch để tưởng nhớ công ơn của các vị thành hoàng làng đã âm phù dương trợ cho dân làng được no ấm. Với những ý nghĩa và giá trị sâu sắc đó ngôi đình đã được UBND thành phố Hà Nội ra quyết định xếp hạng năm 2016.