di tích lịch sử

ĐÌNH VÀ CHÙA THƯỢNG ĐỒNG PHƯỜNG PHÚC LỢI - NHỮNG GIÁ TRỊ LỊCH SỬ VÀ VĂN HÓA CẦN ĐƯỢC BẢO TỒN TRONG BỐI CẢNH ĐÔ THỊ HÓA
Ngày đăng 25/11/2015 | 09:23  | Lượt xem: 1186

Đình và chùa Thượng Đồng đã được Bộ Văn hoá Thông tin xếp hạng vào năm 1993. Điều đặc biệt, trong hội làng Thượng Đồng vẫn còn bảo lưu tục Tế trâu, đi kèm với nó là lễ rước liềm và cờ vàng như gợi ý với thần linh rằng: hãy vì dân làng mà các thần linh bảo trợ để mở mang sản xuất nông nghiệp. Những giá trị của di sản văn hóa nơi đây cần được bảo tồn trong điều kiện đô thị hóa nhanh.

Thượng Đồng là vùng đất cao, đồng mùa, ít khi bị lũ lụt, dù cho nó nằm ngay sát bờ đê sông Đuống. Chính vì điều kiện tự nhiên như vậy, nên các thần linh gắn với di tích ở nơi này không liên quan tới việc chống lụt ( được thể hiện trong sự tích và nghệ thuật tạo hình). Thượng Đồng là một làng nông nghiệp, nhưng ở gần sông, nên ít nhiều có mối quan hệ với nghề sông nước, kể cả chài lưới và cả với những thuyền buôn xuôi ngược, mà hàng hoá chủ yếu là sản phẩm có lẽ từ dư thừa của nghề nông (vì nghề phụ cổ truyền ở nơi đây không thấy truyền lại một cách rõ ràng). Đình chùa Thượng Đồng hiện nay không còn giữ được nhiều dấu tích của thời khởi dựng nữa, các kết cấu kiến trúc chỉ là sản phẩm của thời gian có tuổi khoảng trên dưới một thế kỷ. Vì thế giá trị văn hoá của chúng được đặt nhiều vào các hiện vật liên quan.

1- Về ngôi chùa:

Tuy không bị di chuyển từ nơi khác tới, nhưng hướng chùa hiện nay không còn theo hướng truyền thống nữa, có lẽ kiến trúc này bị đổi hướng vào khoảng đầu thế kỷ XX và hầu như tất cả các quy chuẩn cơ bản của nó đều đã bị suy lạc. Chùa không nhìn về hướng Nam, có nghĩa ít quan tâm tới " Bát Nhã" ( Trí tuệ) một trong những cứu cánh tối thượng của nhà Phật. Mặt khác, cũng không theo hướng Tây, một hướng cổ truyền của tổ tiên là mong thần linh luôn yên vị để vì chúng sinh mà phù trợ. Ngoài các hướng trên thì phần nhiều các hướng khác đã lệ thuộc vào tư duy thực dụng, tuỳ tiện ( phần nhiều ở đô thị, lệ thuộc vào trục giao thông, hoặc nhận thức cổ truyền đã bị tàn phai) mà quên mất tư duy liên tưởng đầy giá trị tâm linh có phần mang nét trừu tượng dân dã. Người ta thường nghĩ rằng, trong thế giới tâm linh, được đúc kết biết bao đời, thì, sự thiếu chuẩn mực sẽ là cửa ngõ cho mê tín dị đoan xâm nhập. Chẳng thế mà, chùa này nay không có tam quan, một phương đình cao có một tầng mái xây trước mặt chùa chỉ mang tư cách là nơi để treo chuông, ngoài ra không còn một ý nghĩa triết học cổ truyền nào khác. Chùa chính không còn đầy đủ đá bó vỉa để phân định thế giới thiêng liêng và trần tục. Bước vào Tiền đường, có con voi và con ngựa vô lối, to lớn, phi nghệ thuật và phi cả giá trị tâm linh làm mệt mỏi tâm hồn chúng sinh. Tuy nhiên, đối với hệ thống tượng thờ dù cho có niên đại không sớm, nhưng phần nhiều đều có một giá trị nghệ thuật nhất định.

- Bộ tượng Đức Ông đầy vẻ tự nhiên mà vẫn oai phong, các tượng này như mang một phong cách riêng có nhiều chi tiết không giống ở nơi khác. Đức Ông, vẫn ngồi trên bệ, buông chân song song, nhưng mũ của ngài không có cánh chuồn chéo lên hoặc ngang, mà lại tạo thành hai giải mũ ngắn lửng hơi vênh ra ở sau tai, cả hai tay tì trên gối, nhưng tay phải lại cầm hốt để biểu hiện uy quyền tối thượng với thế gian. Hai tượng thị giả cũng có bộ mặt bầu bĩnh hiền lành như Đức Ông. Thế ngồi, một chân buông, một chân tụt khỏi giầy để co chống trên bệ ngồi, vị bên phải lại vén tay áo trái tới tận vai. Ở đây, người ta đã ít quan tâm tới tướng mạo của khuôn mặt và những động tác như đã nêu trên, khiến bộ tượng trở nên tự nhiên và gần gũi, như có nét bình dân hơn. Từ đây kẻ hành hương chuyển qua gian giữa để lễ Phật. Do thờ Phật theo lối bình dân ( Thế gian trụ trì Phật Pháp), người Phật tử cần ngửng mặt lên để chiêm ngưỡng Thánh tượng của chư Phật và chư vị Bồ Tát. Trên cao nhất là bộ tượng Tam thế Thường trụ diệu pháp thân ( Cũng gọi là Tam thế Tam thiên Phật) tượng trưng cho 3000 vị Phật của ba thời Quá khứ ( Tương ứng Trang nghiêm kiếp), Hiện tại ( Tương ứng Hiền kiếp) và Vị lai ( Tương ứng Tinh tú kiếp)... Đây là một bộ tượng được tạo tác khá kỹ, khá chuẩn mực. Tượng ngồi theo lối Kiết già hàng ma, đã ngầm bảo cho chúng ta biết, đương thời khi làm lại chùa ít nhất dân chúng nơi đây đã bị nhiều điều ngang trái, có khi là tai hoạ ở lĩnh vực tinh thần hay cuộc sống. Ở lĩnh vực tạo hình, ba pho tượng này cùng một phong cách, đầu tượng có tóc kết thành nhiều u xoắn nổi ( Tượng cho các chữ Thánh: Vạn tự, Đức tự, Cát tường tự), nhục kháo không rõ nhưng lại lộ rõ tướng Vô kiến đỉnh ( Sahasrâra) một biểu tượng cao hơn hết về trí tuệ của đức Phật. Bộ mặt bầu bĩnh phúc hậu với đầy đủ quý tướng của kiếp tu. Đặc biệt các tượng đều có nụ cười hàm tiếu mang ý nghĩa cảm thông và cứu độ chúng sinh. Áo cà sa ( Nhẫn nhục y, Thanh y, Tĩnh y...) và la bào đã tạo nhiều nếp, với hình thức kế thừa gần gũi phong cách của tượng Phật có niên đại vào thế kỷ XVIII. Tay tượng kết ấn Tam Muội ( Samâchi, Giới định, Pháp giới định...) Tất cả đã hội lại thành một chỉnh thể ở mặt tinh thần của nhà Phật.

- Hàng thứ hai là bộ Di Đà Tam Tôn, cũng gọi " Di Đà Tiếp Dẫn" mang ý nghĩa: dẫn dắt chúng sinh có Phật quả về miền Tĩnh Thổ. Bộ tượng này có ba pho gồm: ở giữa A Di Đà Phật với 13 đại danh tính, trong đó có 2 danh tính thường được nhắc tới: Vô Lượng Thọ Phật và Vô Lượng Quang Phật, trong trường hợp này Ngài còn là hiện thân của Đại Trí, Đại Tuệ, Đại Hùng, Đại Lực, Đại Từ, Đại Bi, Đại Hỷ, Đại Xả... Bên trái Ngài có Quan Thế Âm Bồ Tát, hiện thân của Từ, Bi, Hy, Xả, và bên phải của Ngài là Đại Thế Chí Bồ Tát, hiện thân của Trí, Tuệ, Hùng, Lực. Như vậy rõ ràng, trong dạng thức trên, A Di Đà là hiện thân dung hội đặc tính của cả Quan Âm và Thế Trí, hoặc ngược lại... Và, tất nhiên bộ ba này đã ở miền Cực Lạc/Niết Bàn nên bộ mặt và tay chân đều được thếp vàng ròng. Ở mặt tạo hình, tượng A Di Đà Phật của chùa này gần như đồng nhất với tượng Tam Thế Phật với kích thước lớn hơn, ngực có chữ Vạn theo chiều quay của lửa Tam Muội, chỉ một chi tiết khác là trong ấn Thiền Định đã để bàn tay phải trên bàn tay trái, còn các tượng Tam Thế thì ngược lại. Hai tượng Quan Âm và Thế Chí có phần phức tạp hơn về nghệ thuật chạm khắc, như ở Thiên/Bảo quan được làm theo phong cách của thế kỷ XVII – XVIII với nhiều chi tiết gồ ghề. Trên đó, ở chính giữa mặt đứng Thiên Quan của Thế Trí được chạm nổi lọ nước Cam Lồ trong lòng lá đề, còn ở Quan Âm là đấng Từ Phụ ( A Di Đà). Mặt khác nếp áo của các Bồ Tát này nhiều khi nổi lên thành những đường gân lớn, gấu La Bào và mũi cánh sen vuốt vênh ra không ấm áp như ở tượng A Di Đà. Điều như nêu trên khiến chúng ta có thể ngờ rằng hai pho này đã không cùng một bộ gốc với tượng A Di Đà. Có lẽ cả hai đã được làm muộn hơn. Một điểm đáng quan tâm nữa là hiện hai pho này đang ngồi nhầm chỗ của nhau!

- Ở hàng thứ ba là bộ Hoa Nghiêm Tam Thánh với Thích Ca giơ bông sen lên để nhắc nhở chúng sinh, vào chùa là để " Tự tính trạm viên" ( Tự mình phải tìm lấy Phật tâm trong sáng tròn đầy của mình) để đi tới giác ngộ và giải thoát. Tượng có bộ mặt khá chuẩn, nhưng tai khá thấp mang cùng một phong cách với tượng Quan Âm và Thế Chí ở hàng trên, nếp áo cong cường điệu và rõ ràng không được đẹp. Hai Bồ Tát Văn Thù ( Tượng trưng cho Chân Trí của nhà Phật) và Phổ Hiền ( Tượng trưng cho Chân Lý tuyệt đối của nhà Phật) đã được tạo tác với phong cách khác gần gũi và ấm áp, nhiều chất dân gian... Cả hai tượng đều có khuôn mặt nữ, voi và sư tử đều mang nhiều nét tượng trưng. Tuy vậy cả bộ tượng vẫn nói lên tinh thần về triết học của nhà Phật là: Âm và Dương, Phàm và Thánh, Lý và Trí... cùng một thể một cội nguồn.

- Về hàng thứ tư là bộ Ngọc Hoàng – Nam Tào – Bắc Đẩu, cả ba pho đều có kích thước gần như tương đồng, chỉ pho giữa được đội mũ bình thiên và cầm hốt quyền uy. Hai pho bên không cầm sách và bút như các bộ tượng thông thường cùng loại. Cả ba đều cùng ngồi trên bệ không ngai, chân buông thẳng xuống ở phía trước. Chúng tôi có cảm giác rằng chỉ một pho Ngọc Hoàng Thượng Đế ở giữa là chính gốc, còn hai tượng bên như đã được gán ghép vào ( vốn không phải cùng một bộ).

Trước mặt ba pho trên là pho tượng Cửu Long Thích Ca sơ sinh cũ nát với cách làm theo dạng dân gian, ngỗ nghĩnh và khá đẹp, theo dáng dấp của các tượng cùng loại vào thế kỷ XVII – XVIII. Đây là một pho cần chú ý. Chặn mặt pho Thích Ca sơ sinh là tượng Quan Âm Chuẩn Đề. Pho này cũng có niên đại khá muộn, được thể hiện khi mà những quy tắc thông thường về hình tượng này có phần đã bị suy lạc, với ngón tay dài vuốt cứng không tự nhiên, song ấn Chuẩn Đề kết trước ngực có vẻ hững hờ không được chuẩn, chỉ có khuôn mặt vẫn theo cách cũ.

Về bộ Cửu Long Thích Ca sơ sinh, đây là bộ có nhiều tượng nhỏ ( vừa có tượng gốc, vừa có tượng bổ sung về sau), hình thức có phần vui. Trung tâm là tượng Thích Ca sơ sinh mặc váy cũn cỡn, pho này làm đúng theo tư duy nông nghiệp Bắc Bộ, với tay trái ( âm) chỉ lên trời ( dương) và tay phải ( dương) chỉ xuống đất ( âm), đó là hình tượng phù hợp với quy luật âm dương đối đãi của trời đất. Đứng trước tượng này, người Phật tử như còn thoảng nghe thấy lời " Tuyên ngôn" của Thích Ca, rằng " Thiên thượng, thiên hạ duy ngã độc tôn". Ngài đã dạy chúng sinh rằng: Ngã ở đây là ta, song không phải là cái ta cá thể ( Átman) mà là Đại Ngã trường tồn ( Brâhman) đồng nhất với Bản thể chân như, tức Phật thân ẩn chứa trong mỗi chúng sinh. Trong tạo hình, có một số tượng nhỏ được bổ sung vào, song cách sắp xếp chưa được đúng, như đặt tượng A Di Đà cao hơn Tam Thế Phật, khiến Quan Âm và Thế Chí đứng chơ vơ. Tình trạng đó cũng tương tự như đối với Ca Diếp và A Nan Đà khi mà Tuyết Sơn bị ngồi xuống tận dưới cùng. Ở đây cũng có một số tượng được làm theo tích Phật, như bà Ma Gia sinh ra đức Thích Ca ở nách (với hình tượng một bà mẹ giơ tay lên cao, để lộ rõ một chú bé lấp ló ở ống tay áo) hay vài thiên tướng dưới dạng như những hộ pháp, rồi vua Tịnh Phạn với những người hầu cận.

Ngoài những pho trên chính điện, ở toà Tiền đường còn tượng Khuyến Thiện, Trừng ác, Thánh Tăng và gần đây là tượng Đại Phạm Thiên Vương được đưa vào cho việc cúng vong và phục vụ công tác kinh tế của nhà chùa. Ở mặt tạo hình, nhìn chung các pho này chưa thấy gì nổi bật.

Trong hệ thống tượng cũng cần phải điểm tới tượng Tổ, nổi lên là hai tượng Bồ Đề Đạt Ma ngồi ở lớp giữa và Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát cưỡi sư tử ngồi trên cùng. Đó là điểm riêng của chùa này, nhưng theo tôi, cách sắp xếp này chưa đúng. Bởi Bồ Đề Đạt Ma là sơ tổ Đông Độ, được coi như người đầu tiên đem Thiền Tông Ấn Độ tới lưu truyền trên đất Trung Hoa, đã lập ra phái Thiếu Lâm, truyền thừa tới đời thứ 6 thì nổi lên có 2 vị là Huệ Năng và Thần Tú. Phái của Huệ Năng chú ý hoằng dương Phật Pháp ở phía Nam, để rồi ảnh hưởng tới Phật giáo nước ta một cách mạnh mẽ từ thế kỷ thứ XVII. Vì thế hầu hết các ngôi chùa ở đất Việt đều coi Bồ Đề Đạt Ma như một vị sư tổ chung, được đặt ở vị trí cao và sâu nhất trên Ban thờ Tổ. Còn Văn Thù Bồ Tát, dù có lịch sử ghi chép như thế nào đi nữa, Ngài cũng không phải là một vị sơ tổ như Đạt Ma, Ngài được người Trung Hoa lập chùa thờ với trung tâm là Ngũ Hành Sơn. Ảnh hưởng của Ngài tới đất Việt chủ yếu được đặt bên trái tượng Thích Ca ( Ở Việt Nam vị trí này nhiều khi lẫn với Phổ Hiền, ngay như ở chùa này), Ngài cưỡi con sư tử, thường màu xanh, với những chùa nhìn về hướng Nam. Trong tư cách đó, Ngài tượng cho Chân Trí tuyệt đối của nhà Phật. Nhìn chung, chưa có tư cách nào để Ngài ngồi trong một nhà Tổ thông thường, nhất là lại ngồi cao hơn cả Bồ Đề Đạt Ma ( !). Ở lĩnh vực tạo hình, về dáng bên ngoài, tượng Văn Thù có nét gần gũi với tượng Văn Thù ở chùa Bút Tháp, tuy nhiên mặt nào đó thân hình có vẻ mập mạp và có nhiều điểm làm chúng ta phải suy nghĩ, như Thiên quan có vẻ theo phong cách của tạo hình thế kỷ XVIII, nhưng các đề tài lại thể hiện quá tuỳ tiện. Một chi tiết khác đáng chú ý là dải tóc mai của các tượng cổ thường đè qua giữa tai rồi chảy xuống vai, thì ở đây tóc quấn bó lấy tai với hai vòng. Mặt khác bàn tay tượng lại quá béo, ngón tay ngắn, thô... Nhìn chung đây là sự kế thừa không chọn vẹn, bởi người thực thi chưa hiểu được ẩn ý ở đằng sau nét chạm của tổ tiên.

2- Về ngôi đình:

Mới được di chuyển về nơi này, ở lĩnh vực kiến trúc thì hầu như chưa thấy gì đáng quan tâm, nhưng đình vẫn giữ được một số hiện vật quí hiếm, đó là hai bộ bài vị cổ với nghệ thuật chạm trổ khá đẹp và một vài di vật khác...

Trước hết là tượng của người anh cả Trịnh Chính, pho tượng này theo lời kể của các cụ thì vốn được đặt ở miếu. Tượng có kích thước ngang cơ thể thực của con người, phục trang đội mũ cánh chuồn, mặc áo hoàng bào ( áo của vua), ngồi trong ngai... Khuôn mặt phương phi, vuông chữ điền. Thông qua các đề tài thể hiện trên mũ áo và dáng tượng, chúng ta tạm xét niên đại của tượng vào khoảng cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX ( thời kỳ những qui định của triều đình phần nào bị nhạt phai trong nhận thức của quần chúng). Về cách thể hiện hoàng bào có bổ tử lớn chạm nổi một con rồng với mặt nhìn thẳng ra phía trước, hai vai và gối có rồng chầu vào, dưới bổ tử và đai bụng có phượng vũ, đồng thời tay cầm hốt quyền uy, nhưng đầu lại đội mũ cánh chuồn của quan. Ở mặt tạo hình, tượng chưa được cân đối lắm như giữa khuôn mặt khá to so với cơ thể. Ngoài ra, một hình thức thay thế cho tượng ở đình còn hai chiếc bài vị khá đẹp. Chúng mang các nét chạm khá kỹ, đạt giá trị nghệ thuật cao, với niên đại khoảng đầu thế kỷ XVIII. Có thể mường tượng ra được, đầu của bài vị như đầu người, nặng yếu tố dương với mặt trời toả nhiều đao lửa hình mũi mác hoặc hai bên có rồng chầu... Thân bài vị như thân người với cột trung tâm có tên thần và nhiều khi cả những lời tôn vinh. Sở dĩ nhìn bài vị gần như một biểu hiện về cơ thể của thần là từ kết quả của sự điều tra hồi cố lâu dài. Và, gần đây nhận thức này mới được củng cố hơn khi chúng ta tìm được ba bài vị bằng gỗ mang dạng hình nhân cụ thể ở đình Trường Lâm ( Việt Hưng – Long Biên). Ngoài các hiện vật như nêu trên, đình còn có 10 pho tượng quan văn, quan võ đứng ken nhau cân đối hai bên, tuy 10 tượng này được thể hiện đơn giản nhưng vẫn đủ tư cách để đề cao Thần Trịnh Chính lên tới Nhất phẩm triều đình. Ngoài ra, đình còn có chiếc nhang án chính mang nghệ thuật cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, đặc biệt hai chân trước đã được chạm nổi hai phỗng thờ cầm dải mây cuộn mang đầy yếu tố dân gian, với một vẻ đẹp đột ngột... Chúng ta như ngờ rằng, đây cũng là hình tượng của thế lực bên dưới đã quy thuận trước uy lực của Thần. Hiện nay đình vẫn còn giữ được đầy đủ bộ đòn của chiếc kiệu bát cống, mang nghệ thuật đầu thế kỷ XVIII, có nhiều giá trị.

Đình và chùa Thượng Đồng đã được Bộ Văn hoá Thông tin xếp hạng vào năm 1993. Điều đặc biệt, trong hội làng Thượng Đồng vẫn còn bảo lưu tục Tế trâu, đi kèm với nó là lễ rước liềm và cờ vàng như gợi ý với thần linh rằng: hãy vì dân làng mà các thần linh bảo trợ để mở mang sản xuất nông nghiệp. Những giá trị của di sản văn hóa nơi đây cần được bảo tồn trong điều kiện đô thị hóa nhanh.

                                                                                                                                     Bùi Thế Quân