di tích lịch sử

CHUÔNG ĐỒNG CHÙA CẦU BÂY PHƯỜNG THẠCH BÀN, QUẬN LONG BIÊN { HÀ NỘI } MỘT THÔNG ĐIỆP VỀ CHA TRUYỀN CON NỐI NHIỀU ĐỜI TU TẠI CHÙA
Ngày đăng 25/11/2015 | 09:57  | Lượt xem: 1369

Trước đây, đã đôi lần thấy hiện tượng sư có vợ nhưng không phải thấy ghi quá kỹ như ở chuông chùa Cầu Bây. Chi tiết này như gợi ý về một dòng tu thiền đã từng phổ biến ở nước ta trong nghìn năm, đó là dòng Vinitaruci khi đã có sự chuyển hoá để hoà với thiền định mật tông (Tantra), một hệ phái coi trọng cái đức tĩnh dục để đạt đạo, nhưng sau đó kẻ hành giả có thể tự cho cái quyền sử dụng cử chỉ gắn với dục tính để thức tỉnh con rắn tính khí Kundaini, gọi nó vươn lên não bộ phối hợp với "nguồn sống" có nghĩa là sự phối hợp vũ trụ hoá giữa thần linh với chính tinh khí của người biểu hiện.

Chùa Câu Bây được gọi theo tên làng, trước năm 2004 thuộc làng Cầu Bây, xã Thạch Bàn, huyện Gia Lâm { Hà Nội }, nay thuộc tổ dân phố số 14, phường Thạch Bàn, quận Long Biên { Hà Nội }. Chùa có tên chữ là Đại Phúc Trụ ( tức phúc lớn thường hằng của trời ban xuống cho con người). Chùa được dựng theo hướng Đông Nam, nằm ở bìa làng, gần tiếp giáp với sông Nghĩa Trụ ( còn gọi là sông Cầu Bây, một chi lưu của sông Hồng). Ngôi chùa này cũng không còn giữ lại được kiến trúc khởi nguyên, kiến trúc chỉ còn là sản phẩm của nghệ thuật đầu thế kỷ 20. Chùa không có Tam quan, bố cục mặt bằng đơn nguyên kiến trúc gồm Tam bảo hiện nay hình chữ Đinh (丁), phía sau cách qua sân rộng là nhà Tổ có mặt bằng hình chữ Đinh (丁), bên phải là nhà Mẫu với mặt bằng kiến trúc hình chữ Nhị ( = ), bên phải nhà Tổ là Tăng đường và công trình phụ trợ. Trước đây, lối từ Tiền đường xuống nhà Tổ ( Hậu đường) là hai dãy hành lang nhưng trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, dân quân địa phương đào hầm trú ẩn và giặc Pháp đốt phá nên sau này tu sửa lại đã bỏ hai dãy hành lang. Chúng ta chỉ đoán định niên đại khởi dựng của ngôi chùa thông qua tấm bia đá niên đại Hoằng Định thứ 10 ( 1609). Tấm bia này đã có thời bị ‘‘ phiêu bạt'' ở cánh đồng gần chùa, chúng tôi mang về chùa để khảo cứu tư liệu. Nội dung văn bia cho biết năm Đinh Mùi ( 1607), sư trụ trì đã cho hưng công tu tạo tả hữu hành lang, tiền đường, án tiền, làm mới tượng các toà. Như vậy có khả năng chùa được khởi dựng vào thế kỷ XVI. Điều chúng tôi quan tâm đến quả chuông đồng hiện được treo ở xà nách gian đốc bên phải toà Tiền đường. Chuông được đúc vào ngày 16 tháng 11 năm Đinh Tỵ ( 1797). Quai chuông là một đôi rồng có chung lưng, hai đầu vểnh sang hai bên. Trán rồng nổi khối, mũi gồ, miệng há rộng nhe bốn răng nanh, lưỡi rồng thè ra ngậm một viên ngọc Minh Châu, hai mắt rồng nổi lộ rõ ngấn mi, hàm dưới rồng bạnh ra có ba cụm râu trải lượn sóng rồi đính vào cổ rồng. Thân rồng to mập, tròn lẳn, toàn bộ được phủ một lớp vẩy cá chép, vây lưng rồng to mập, đều đặn dựng lên, phần đầu vây hơi xuôi về sau. Bốn chân rồng mập với bốn vuốt nhọn sắc bám vào đỉnh chuông, kết hợp với chân rồng tạo thành điểm nối liền giữa quai và thân chuông.

Thân chuông dáng " Thượng thu hạ thách", toàn thể thân chuông được chia làm hai phần, phần trên tính từ đỉnh đến đai chuông với độ cao là 60cm được chia dọc thành bốn ô hình chữ nhật được cách nhau bởi năm đường viền chỉ nổi chạy song song từ đỉnh đến đai chuông. Trong lòng các ô hình chữ nhật có khắc bài minh chuông bằng chữ Hán.

Phần thứ hai của thân chuông là 25cm cũng được chia thành bốn ô chữ nhật nằm ngang, trong lòng bốn ô đó có đắp nổi đề tài " tứ linh" (long, li, quy, phượng). Phần mang chuông loe ra với độ loe là 6cm để trơn không trang trí. Bốn núm chuông hình tròn nổi được giới hạn bởi  một đường chỉ, ngoài viền chỉ được bao quanh 25 viên hạt tròn nổi, nối giữa bốn núm là đai chuông có bề rộng là 2cm chạy song song với đai chuông dưới là giải hoa chanh.

Chuông có kích thước như sau:

- Cao tổng thể:120 cm                                  - Cao thân chuông: 85 cm

- Chu vi thân: 135cm                                   - Chu vi mang chuông: 185cm

- Đường kính đỉnh thân chuông: 33cm         - Đường kính đáy: 60cm

- Đường kính núm chuông: 10cm                 - Độ cao quai chuông: 35cm

  Nội dung bài minh chuông có đoạn ghi như sau: " Thượng Đức Chân đà Tỳ kheo sa tăng tuỳ nhân vịnh tự Đạo trị pháp Huệ Vũ thiền sư. Trước kia trụ trì ở chùa Phúc, Tổ sư tự là Huệ Viên truyền cho con trai tự là Huệ Nương đến Thiền sư Chí Thử truyền về bản thôn là Hoàng thiền sư tự là Huyền Tiên hiệu đạo là Huệ Tăng hưởng thọ 84 tuổi, truyền cho con trai tự là Đức Trọng hiệu đạo là Huệ Dung thiền sư hưởng thọ 73 tuổi, truyền lại cho con trai trụ trì tại chùa Phúc. Hoàng Đức Tông tự là Pháp Linh hiệu đạo là Huệ Vỹ được 66 năm, tiếp sau là con trai Hoàng Đức Lượng tự là Phổ Tế hiệu đạo là Huệ Hồng phát con trai là Hoàng Nguyên, Hoàng Thượng, Hoàng Đổ cùng tu ở chùa…"

Đây là một chi tiết hiếm thấy và có phần xa lạ với các kiếp tu hiện nay, đó là: Sư có vợ, thậm chí lại còn cha truyền con nối. Trước đây chúng tôi cũng đã đôi lần thấy hiện tượng này nhưng không phải thấy ghi quá kỹ như ở đây. Chi tiết này như gợi ý về một dòng tu thiền đã từng phổ biến ở nước ta trong nghìn năm, đó là dòng Vinitaruci khi đã có sự chuyển hoá để hoà với thiền định mật tông (Tantra), một hệ phái coi trọng cái đức tĩnh dục để đạt đạo, nhưng sau đó kẻ hành giả có thể tự cho cái quyền sử dụng cử chỉ gắn với dục tính để thức tỉnh con rắn tính khí Kundaini, gọi nó vươn lên não bộ phối hợp với "nguồn sống" có nghĩa là sự phối hợp vũ trụ hoá giữa thần linh với chính tinh khí của người biểu hiện. ( Toàn bộ phần chữ Hán, phiên âm và dịch nghĩa kèm theo bài giới thiệu). Chuông được bảo quản khá tốt, tuy nhiên chùa hiện nay không có Tam quan nên việc treo chuông ở tòa Tiền đường là không đúng với ý nghĩa của Đại hồng chung.

                                                    

大福 住寺 鐫 洪 鍾

蓋 聞 鍾 之 局 器, 道 之 所 寓, 隋 叩 即 鳴 粥 遠 韻 攸 揚 於 天 壤 之 間 過.

天 家 之 號 會 也. 徊 維 嘉 林 縣, 巨 靈 社, 石 梂 村, 大福 住 寺 舊 有 洪鍾. 因 事 祈 接 道 敲 戛 曉 然 局 寺 參 禪 之 的 古 而 今 矣. 傾 年 兵 變 舊 鍾 漂 鉑 寥 寥寂 分 歷 稔 無 音, 夜 月 霜 天 叩 禪 者 不 能 無 感.    玆 本 村 行 善 眾 等 一 班 好 誼 油 然 而 興 善 念 駢 集 家 私 任 情 多 少 捐 買 金 銅 約 期 造 鑄. 仍 協 丁 巳 年 十 一 月 十 六 日 良 時 鳩 工 奠 盧 一 鑄. 便 完 十 分 圓 滿,  從 中 矩 度 尺 寸 靡 差 而 福 果 于 是 乎 成 矣 其 鍾 也.  行 原 乾 体 律 協 商 音 器 朗 聲 宏 袤 然 為 一 方 勝 響 橫 空 偈 閣 開 點 玲 瓏 一 派 洪 音 之 下, 靈 神 為 之 顯 現, 鬼 魔 為 之 潛 藏. 耳 聞 者 條 煩 植 凡 心 契, 者 覺 正 悟 真, 忠 臣 孝 子 耿 然 啟 家 國 之 情. 容 騷 翁 沓 然 醒 各 利 之 夢 于 以 壤, 全 極 之 福 于 以 昭 治 世 之 音 會 見. 

帝 道 晢 離 民 間 絃 瑟 億 萬 餘 年 奠. 皇 圖 於 究 祀, 其 草 故 晢 新 之 眾 係 是 大 緣 果 大 福 德 寧 得 而 量 那. 仍 銘 于 鍾 以 壽 其 傳:

" 鍾 韻 清 宏, 徹 通 沖 壤, 有 耳 者 聞, 有 心 者 覺, 惠 眼 澄 清, 監 觀 陰 騭, 這 般 福 力, 功  德  難  量, 濟 度 慈 航 綏 將 福 復, 感 遂 有 生, 所 求 如 意, 富 壽 康 寧, 石 鄉 全 美".

阮 如 棋, 阮 進 立, 黃 功 勳, 阮 仲 銓, 揚 慶 嘉, 阮 克 動, 潘 曰 朝, 阮 惟 針, 杜 輝 常, 阮 克 能, 杜 有 僚, 杜 輝 珍, 阮 廷 斑, 杜 伯 嘉, 范 功 清, 黃 輝 量, 杜 春 曆, 杜 功 次, 杜 伯 除, 黃 得 拚, 黃 德 舉, 阮 千 佃, 黃 輝 溢, 阮 仲 異, 潘 名 問, 揚 輝 性, 阮 貫, 范 如 意, 阮 廷 用, 阮 智, 阮 廷 壽, 杜 功 寶, 阮 廷 壯, 阮 進 科, 潘 嘉 會, 黃 曰 依, 范 功 曹, 枚 名 海, 阮 名 秀, 阮 皈, 阮 廷 海, 杜 功 契, 阮 嘉 孝, 阮 千 問, 黃 曰 薄, 枚 名 統, 阮 進 鮮, 范 輝 璧, 阮 任, 阮 仲 才, 阮 涯, 黃 輝 炳, 范 功 豁, 阮 廷 榮, 阮 進 升, 阮 時 亭, 阮 輝 溜, 阮 文 淹, 阮 克 滄, 阮 文 幪.

一 信 娓 黃 氏 結, 黃 氏 囈, 阮 氏 民, 阮 氏 混, 阮 氏 怛, 杜 氏 容, 杜 氏 於, 裴 氏 彔, 阮 氏 永, 阮 氏 優, 黃 氏 始, 武 氏 管, 裴 氏 事, 阮 氏 聰, 范 氏 早, 阮 氏 煌.

一 功 德

杜 氏 玄 一 貫 陸 陌, 阮 春 欲 一 貫 三 陌, 阮 文 多 一 貫 二 陌, 范 有 通 一 貫 二 陌, 阮 廷 美 一 貫 二 陌.

一 貫 以 下: 裴 氏 長, 阮 進 重, 裴 克 莊, 范 功 純, 阮 氏 崩, 黃 氏 事 黃 氏 閔, 裴 氏 眷, 阮 恕, 黃 功 珠, 杜 功 週, 阮 如 水, 黃 德 量, 黃 氏 點, 黃 功 闡, 黃 功 淡, 黃 功異, 阮 進 榴, 黃 文 鴉, 曲 氏 資, 黃 輝 旦.

九 陌 以 下: 范 功 烏, 阮 廷 偉, 枚 春 催.

八 陌 以 下: 阮 千 性, 阮 氏 賢, 阮 仲 曠.

七 陌 以 下: 范 功 謙, 黃 氏 瓶, 潘 功 許.

六 陌 以 下: 黃 曰 位, 阮 廷 哲, 范 有 禮, 阮 廷 寮, 黃 文 錦, 阮 春 果, 黃 氏 僑, 阮 氏 綿, 杜 惟 純, 阮 堂, 裴 孝 法, 阮 登 桃, 黃 有 勃, 黃 國 林, 黃 曰 妙, 杜 功 然, 阮 千 願.

五 陌 以 下: 杜 功 勤, 黃 德 頌, 阮 如 未, 揚 文 煒, 阮 克 兼, 阮 克 就, 杜 伯 異, 阮 氏 莊.

四 陌 以 下: 黃 功 昔, 阮 氏 亥, 阮 亮.

三 陌 以 下: 阮 如 賭, 范 功 產, 范 氏 圍, 范 有 詩, 范 氏 斷, 阮 氏 當, 黃 氏 娓, 裴 文 員, 阮 文 潤, 阮 如 卯, 黃 氏 酉, 阮 廷 達, 阮 千壽, 范 功 積, 黃 文 院, 阮 伯 奮, 揚 仲 名, 黃 文 便, 揚 輝 伯, 黃 氏 代, 阮 進 造, 阮 克 把, 杜 文 辨, 揚 文 派, 裴 廷 兄, 黃 廷 鐵.

一 功 德 本 社 吳 村 阮 廷 格 一 貫, 揚 廷 妙 一 貫, 本 村 謝 忠 固, 阮 千 臺.

一 功 德 本 總 土 塊 社 候 憲 部 一 貫, 杜 正 道 六 陌, 本 縣 古 碑 社 范 懸 食 五 陌.

一 功 德 本 府 古 覽 社 杜 畬 一 貫.

普 及 全 村 上 下 會 內 核 柝 十 方 諸 上 善 人 隨 緣 信 施 銅 錫 金 銀 用 眷 功 德, 果 福 圓 成, 等 與 天 久 地 長, 物 阜 人 康, 慶 留 苗 裔.

禪 僧 偈 舊 鍾 所 鐫 記 會 跡 于 行 以 示 後 來.

前 開 創 伽 藍, 上 殿, 燒 香, 前 堂, 後 堂, 左 右 行 廊, 僧 房, 造 像, 鑄 鍾, 發 施 田 池, 供 養 給 寺.

上 德 真 陀 比 邱 沙 僧 陶 仁 詠 字 道 治 法 號 惠 雨 禪 師. 昔 時 住 持 福 寺, 祖 師 字 惠 圓 傳 與 男 子 字 惠 良 禪 師 至 此 傳 與 本 村. 黃 禪 師 字 玄 仙 道 號 惠 僧 住 世 八 十 四 歲. 傳 與 男 子 字 德 重 道 號 惠 容 禪 師 住 世 七 十 三 歲. 傳 與 男 子 常 住 持 福 寺 黃 德 琮 字 法 靈 道 號 惠 偉 今 當 六 十 六 歲. 繼 後 男 子 黃 德 量 字 普 濟 道 號 惠 洪, 發 男 子 黃 元, 黃 尚, 黃 賭 仝 禪 門 寺.

後 開 創 玆 年 本 村 社 長 裴 惟 程, 村 長 阮 仲 銓, 阮 克 鄞, 阮 迪 哲, 揚 慶 加, 阮 仲 曠, 阮 惟 針, 阮 量, 裴 功 助, 杜 輝 崇, 黃 國 林, 阮 廷 旺, 范 功 清, 阮 名 香, 杜 輝 珍, 潘 曰 朝, 黃 輝 亥, 阮 克 盍, 黃 廷 議, 杜 有 燎, 黃 功 珠, 裴 克 莊, 阮 如 味, 黃 廷 榮, 杜 伯 茄, 黃 功 貴, 全 村 上 下 等 起 建 太 功 重 修 本 寺 復 舊 晢 新 築 墻 緝 宇 上 殿, 燒 香, 前 堂, 後 堂...

証 監 得 沐 恩 休 普 使 有 情 並 霑 景 貺 百 福 永 綏 千 祥 集 會.

前 國 子 鋻 拙 齊 先 生 恭 撰, 今 弟 子 舊 校 並 清 集 成.

南 無 長 壽 王 菩 薩 作 大 証 明 禪 門 次 子 黃 元 奉寫.

鍾 鳴 釵.

皇 朝 萬 萬 年 之 鑄 造.

2- Phiên âm:

Đại Phúc Trụ tự tuyên hồng chung ký.

          Cái văn chung chi cuộc khí, đạo chi sở ngụ, tuỳ khấu tức minh chúc viễn vận du dương ư thiên nhưỡng chi gian quá.

          Thiên gia chi hiệu hội dã. Hồi duy Gia Lâm huyện, Cự Linh xã, Thạch Cầu thôn, Đại Phúc tự cựu hữu hồng chung. Nhân sự kỳ tiếp đạo xao kiết hiểu nhiên cuộc tự tham thiền chi đích cổ nhi kim hỹ. Khuynh niên binh biến cựu chung phiêu bạc liêu liêu tịch phân lịch nẫm vô âm, dạ nguyệt sương thiên khấu thiền giả bất năng vô cảm. Tư bản thôn hành thiện chúng đẳng nhất ban hảo nghị du nhiên nhi hưng thiện niệm biền tập gia tư nhâm tình đa thiếu quyên mãi kim đồng ước kỳ tạo chú. Nhưng hiệp Đinh Tỵ niên thập nhất nguyệt thập lục nhật lương thời cưu công điện tiến cúng lô nhất chú. Tiện hoàn thập phân viên mãn, tòng trung củ độ xích thốn mi sai nhi phúc quả vu thị hồ thành hỹ kỳ chung dã. Hành nguyên càn thể luật hiệp thương âm khí lãng thanh hoành mậu nhiên, vi nhất phương thắng hưởng hoành không kệ các khai điểm linh lung nhất phái hồng âm chi hạ, linh thần vi chi hiển hiện, quỷ ma vi chi tiềm tàng. Nhĩ văn giả điều phiền thực phàm tâm khiết giả giác chính ngộ chân, trung thần hiếu tử cảnh nhiên khải gia quốc chi tình. Dung tao ông đạp nhiên tỉnh các lợi chi mộng vu dĩ nhưỡng, toàn cực chi phúc vu dĩ chiêu trị thế chi âm hội kiến.

          Đế đạo triết ly, dân gian huyền sắt, ức vạn dư niên điện. Hoàng đồ ư cứu tự, kỳ thảo cố triết tân chi chúng, hệ thị đại duyên quả đại phúc đức ninh đắc nhi lượng na. Nhưng minh vu chung dĩ thọ kỳ truyền:

Chung vận thanh hoành

Triệt thông xung nhưỡng

Hữu nhĩ giả văn

Hữu tâm giả giác

Huệ nhãn trừng thanh

Giám quan âm chất

Giá bàn phúc lực

Công đức nan lượng

Tế độ từ hàng

Tuy tương phúc phục

Cảm toại hữu sinh

Sở cầu như ý

Phú thọ khang ninh

Thạch hương toàn mỹ.

          Nguyễn Như Kỳ, Nguyễn Tiến Lập, Hoàng Công Huân, Nguyễn Trọng Thuyên, Dương Khánh Gia, Nguyễn Khắc Động, Phan Viết Triều, Nguyễn Duy Châm, Đỗ Huy Thường, Nguyễn Khắc Năng, Đỗ Hữu Liêu, Đỗ Huy Trân, Nguyễn Đình Ban, Đỗ Bá Gia, Phạm Công Thanh, Hoàng Huy Lượng, Đỗ Xuân Lịch, Đỗ Công Thứ, Đỗ Bá Trừ, Hoàng Đắc Phan, Hoàng Đức Cử, Nguyễn Thiên Điền, Hoàng Huy Dật, Nguyễn Trọng Dị, Phan Danh Vấn, Dương Huy Tính, Nguyễn Quán, Phạm Như Ý, Nguyễn Đình Dụng, Nguyễn Trí, Nguyễn Đình Thọ, Đỗ Công Bảo, Nguyễn Đình Tráng, Nguyễn Tiến Khoa, Phan Gia Hội, Hoàng Viết Y, Phạm Công Tào, Mai Danh Hải, Nguyễn Danh Tú, Nguyễn Quy, Nguyễn Đình Hải, Đỗ Công Khiết, Nguyễn Gia Hiếu, Nguyễn Thiên Vấn, Hoàng Viết Bạc, Mai Danh Thống, Nguyễn Tiến Tiên, Phạm Huy Bích, Nguyễn Nhâm, Nguyễn Trọng Tài, Nguyễn Nhai, Hoàng Huy Bính, Phạm Công Khoát, Nguyễn Đình Vinh, Nguyễn Tiến Thăng, Nguyễn Thời Đình, Nguyễn Huy Lưu, Nguyễn Văn Yêm, Nguyễn Khắc Thương, Nguyễn Văn Mông.

          Nhất tín vỹ Hoàng Thị Kết, Hoàng Thị Nghệ, Nguyễn Thị Dân, Nguyễn Thị Hỗn, Nguyễn Thị Đát, Đỗ Thị Dung, Đỗ Thị Ư, Bùi Thị Lục, Nguyễn Thị Vĩnh, Nguyễn Thị Ưu, Hoàng Thị Thuỷ, Vũ Thị Quản, Bùi Thị Sự, Nguyễn Thị Thông, Hoàng Thị Tảo, Nguyễn Thị Hoàng.

          Nhất công đức

Đỗ Thị Huyền nhất quán lục bách, Nguyễn Xuân Dục nhất quán tam bách, Nguyễn Văn Đa nhất quán nhị bách, Phạm Hữu Thông nhất quán nhị bách, Nguyễn Đình Mỹ nhất quán nhị bách.

Nhất quán dĩ hạ: Bùi Thị Trường, Nguyễn Tiến Trọng, Bùi Khắc Trang, Phạm Công Thuần, Nguyễn Thị Băng, Hoàng Thị Sự, Hoàng Thị Mẫn, Bùi Thị Quyến, Nguyễn Thứ, Hoàng Công Châu, Đỗ Công Chu, Nguyễn Như Thuỷ, Hoàng Đức Lượng, Hoàng Thị Điểm, Hoàng Công Xiển, Hoàng Công Đạm, Hoàng Công Dị, Nguyễn Tiến Lưu, Hoàng Văn Nha, Khúc Thị Tư, Hoàng Huy Đán.

Cửu bách dĩ hạ: Phạm Công Ô, Nguyễn Đình Vỹ, Mai Xuân Thôi.

Bát bách dĩ hạ: Nguyễn Thiên Tính, Nguyễn Thị Hiền, Nguyễn Trọng Khoáng.

Thất bách dĩ hạ: Phạm Công Khiêm, Hoàng Thị Bình, Phan Công Hứa.

Lục bách dĩ hạ: Hoàng Viết Vị, Nguyễn Đình Triết, Phạm Hữu Lễ, Nguyễn Đình Liêu, Hoàng Văn Cẩm, Nguyễn Xuân Quả, Hoàng Thị Kiều, Nguyễn Thị Miên, Đỗ Duy Thuần, Nguyễn Đường, Bùi Hiếu Pháp, Nguyễn Đăng Đào, Hoàng Hữu Bột, Hoàng Quốc Lâm, Hoàng Viết Diệu, Đỗ Công Nhiên, Nguyễn Thiên Nguyện.

Ngũ bách dĩ hạ: Đỗ Công Cần, Hoàng Đức Tụng, Nguyễn Như Mùi, Dương Văn Vỹ, Nguyễn Khắc Kiêm, Nguyễn Khắc Tựu, Đỗ Bá Dị, Nguyễn Thị Trang.

Tứ bách dĩ hạ: Hoàng Công Tích, Nguyễn Thị Hợi, Nguyễn Lượng.

Tam bách dĩ hạ: Nguyễn Như Đổ, Phạm Công Sản, Phạm Thị Vy, Phạm Hữu Thi, Phạm Thị Đoạn, Nguyễn Thị Đương, Hoàng Thị Vỉ, Bùi Văn Viên, Nguyễn Văn Nhuận, Nguyễn Như Mão, Hoàng Thị Dậu, Nguyễn Đình Đạt, Nguyễn Thiên Thọ, Phạm Công Tích, Hoàng Văn Viện, Nguyễn Bá Phấn, Dương Trọng Danh, Hoàng Văn Tiện, Dương Huy Bá, Hoàng Thị Đại, Nguyễn Tiến Tạo, Nguyễn Khắc Bả, Đỗ Văn Biện, Dương Văn Phái, Bùi Đình Huynh, Hoàng Đình Thiết.

Nhất công đức bản xã Ngô thôn Nguyễn Đình Cách nhất quán, Dương Đình Diệu nhất quán. Bản thôn Tạ Trung Cố, Nguyễn Thiên Đài.

Nhất công đức bản tổng, Thổ Khối xã Hầu hiến bộ nhất quán, Đỗ Chính Đạo lục bách. Bản huyện Cổ Bi xã Phạm Huyền Thực ngũ bách.

Nhất công đức bản phủ Cổ Lãm xã Đỗ Dư nhất quán.

Phổ cập toàn thôn thượng hạ hội nội hạch thác thập phương chư thượng thiện nhân tuỳ duyên tín thí đồng tích kim tiền dụng quyên công đức phúc quả viên thành, đẳng giữ thiên cửu địa trường, vật phụ nhân khang, khánh lưu miêu duệ.

Thiền tăng kệ cựu chung sở tuyên ký. Bản tự hội tích vu hành dĩ thị hậu lai.

Tiền khai sáng già lam Thượng điện, Thiêu hương, Tiền đường, Hậu đường, Tả hữu hành lang, Tăng phòng, tạo tượng, chú chung, phát thí điền trì cúng dàng cấp tự.

Thượng Đức Chân đà Tỳ kheo sa tăng Đào Nhân Vịnh tự Đạo trị pháp hiệu Huệ Vũ thiền sư. Tích thời trụ trì Phúc tự , Tổ sư tự Huệ Viên truyền giữ nam tử tự Huệ Lương chí Thiền sư chí thử truyền giữ bản thôn Hoàng thiền sư tự Huyền Tiên đạo hiệu Huệ Tăng trụ thế bát thập tứ tuế truyền giữ nam tử tự Đức Trọng đạo hiệu Huệ Dung thiền sư trụ thế thất thập tam tuế truyền giữ nam tử thường trụ trì Phúc tự. Hoàng Đức Tông tự Pháp Linh đạo hiệu Huệ Vỹ kim đương lục thập lục tuế, kế hậu nam tử Hoàng Đức Lượng tự Phổ Tế đạo hiệu Huệ Hồng phát nam tử Hoàng Nguyên, Hoàng Thượng, Hoàng Đổ đồng thiền môn tự.

Hậu khai sáng tư niên bản xã thôn trưởng Bùi Duy Trình, thôn trưởng Nguyễn Trọng Thuyên, Nguyễn Khắc Cẩn, Nguyễn Địch Triết, Dương Khánh Gia, Nguyễn Trọng Khoáng, Nguyễn Duy Châm, Nguyễn Lượng, Bùi Công Trợ, Đỗ Huy Sùng, Hoàng Quốc Lâm, Nguyễn Đình Vượng, Phạm Công Thanh, Nguyễn Danh Hương, Đỗ Huy Trân, Phan Viết Triều, Hoàng Huy Hợi, Nguyễn Khắc Hạp, Hoàng Đình Nghị, Đỗ Hữu Liệu, Hoàng Công Chu, Bùi Khắc Tráng, Nguyễn Như Vị, Hoàng Đình Vinh, Đỗ Bá Gia, Hoàng Công Quý toàn thôn thượng hạ đẳng khởi kiến thái công trùng tu bản tự triết tân trúc tường tập vũ thượng điện, thiêu hương, tiền đường, hậu đường... ( một vài chữ bị mờ).

Chứng giám đắc mộc. Ân hưu phổ sử hữu tình, tịnh triêm cảnh huống, bách phúc vĩnh tuy, thiên tường tập hội.

Tiền Quốc tử giám Chuyết Tế tiên sinh cung soạn, kim đệ tử cựu giáo Tịnh Thanh tập thành.

Nam vô Trường thọ vương Bồ Tát tác đại chứng minh thiền môn thứ tử Hoàng Nguyên phụng tả.

Chung minh thoa.

Hoàng triều vạn vạn niên chi chú tạo

3- Dịch nghĩa:

          Khắc ghi việc đúc quả chuông lớn chùa Đại Phúc Trụ

Thường nghe rằng chuông là đồ nhạc khí mà đạo thì phải dựa vào chuông, tuỳ theo nhịp gõ thì tiếng kêu bay xa, âm điệu du dương vượt qua không gian trời đất.

          Ấy là hiệu hội nhà trời. Trở lại với thôn Thạch Cầu, xã Cự Linh, huyện Gia Lâm, nguyên trước chùa Đại Phúc đã có một quả chuông lớn. Do để cúng cầu tiếp dẫn đạo Phật, chỉ cần gõ ( thỉnh) nhẹ vào buổi sáng sớm thì được khai tỉnh Phật pháp. Ấy là từ xưa tới nay. Mấy năm gần đây do chiến tranh loạn lạc, chuông cũ bị thất lạc, cảnh chùa liêu tịch đã lâu chẳng còn được nghe tiếng, đêm trăng sương trời khấu thiền mà chẳng thể cảm thấu được. Nay thôn ta mọi người làm việc thiện duyên, cùng nhau thống nhất mà khởi dựng điều thiện liền chung góp tài sản có được ít nhiều mua đồng vàng ước tính đủ đúc quả chuông. Vào giờ tốt ngày 16 tháng 11 năm Đinh Tỵ ( 1797) khởi công dựng yên vị bếp lò để đúc chuông. Chẳng mấy mà đã hoàn công viên mãn, cứ theo kích thước khuôn mài nhẵn mà thành quả phúc. Vốn chất trời đất hợp được âm khí sáng lạng, trong trẻo và ngang dọc như vậy. Làm cho một phương trời vang âm hưởng lớn, lời kệ lại khai điểm tiếng ngọc kêu, một dòng âm lớn lướt xuống làm cho thần linh phải hiển hiện, ma quỷ phải ẩn mình. Kẻ nào có điều phiền muộn nghe được sẽ thấy tấm lòng thanh thoát, giác ngộ được chân như, bầy tôi trung, đấng con hiếu sáng lạng mở ra tình đất nước gia đình. Những ưu phiền lo lắng sẽ được tỉnh ngộ sau những cơn mộng u mê như ở trong lòng đất. Phúc lớn của nhà vua sẽ rọi chiếu để cứu đời khi nghe thấy được âm chuông.

          Đạo lý tỏ rõ, dân gian nối liền, yên định cho muôn vạn năm. Cơ đồ lễ nghĩa mọi người được đổi mới, kết chặt nhân duyên hợp thành đại phúc đức, yên ổn mà lượng được lâu dài. Bèn viết bài minh lưu truyền mãi mãi.

Nhịp chuông vang trong

Xuyên thông lòng đất

Có tai nghe tỏ

Có tâm giác ngộ

Thấy rõ thanh tao

Họa phúc trời định

Phúc lực quanh co

Công đức khó đoán

Chở thuyền cứu độ

Tiếp dẫn chúng sinh

Cảm được quả phúc

Cầu gì ý đó

Phú thọ khang ninh

Làng quê tốt đẹp.

          Nguyễn Như Kỳ, Nguyễn Tiến Lập, Hoàng Công Huân, Nguyễn Trọng Thuyên, Dương Khánh Gia, Nguyễn Khắc Động, Phan Viết Triều, Nguyễn Duy Châm, Đỗ Huy Thường, Nguyễn Khắc Năng, Đỗ Hữu Liêu, Đỗ Huy Trân, Nguyễn Đình Ban, Đỗ Bá Gia, Phạm Công Thanh, Hoàng Huy Lượng, Đỗ Xuân Lịch, Đỗ Công Thứ, Đỗ Bá Trừ, Hoàng Đắc Phan, Hoàng Đức Cử, Nguyễn Thiên Điền, Hoàng Huy Dật, Nguyễn Trọng Dị, Phan Danh Vấn, Dương Huy Tính, Nguyễn Quán, Phạm Như Ý, Nguyễn Đình Dụng, Nguyễn Trí, Nguyễn Đình Thọ, Đỗ Công Bảo, Nguyễn Đình Tráng, Nguyễn Tiến Khoa, Phan Gia Hội, Hoàng Viết Y, Phạm Công Tào, Mai Danh Hải, Nguyễn Danh Tú, Nguyễn Quy, Nguyễn Đình Hải, Đỗ Công Khiết, Nguyễn Gia Hiếu, Nguyễn Thiên Vấn, Hoàng Viết Bạc, Mai Danh Thống, Nguyễn Tiến Tiên, Phạm Huy Bích, Nguyễn Nhâm, Nguyễn Trọng Tài, Nguyễn Nhai, Hoàng Huy Bính, Phạm Công Khoát, Nguyễn Đình Vinh, Nguyễn Tiến Thăng, Nguyễn Thời Đình, Nguyễn Huy Lưu, Nguyễn Văn Yêm, Nguyễn Khắc Thương, Nguyễn Văn Mông.

          Tín nữ : Hoàng Thị Kết, Hoàng Thị Nghệ, Nguyễn Thị Dân, Nguyễn Thị Hỗn, Nguyễn Thị Đát, Đỗ Thị Dung, Đỗ Thị Ư, Bùi Thị Lục, Nguyễn Thị Vĩnh, Nguyễn Thị Ưu, Hoàng Thị Thuỷ, Vũ Thị Quản, Bùi Thị Sự, Nguyễn Thị Thông, Hoàng Thị Tảo, Nguyễn Thị Hoàng.

          Người công đức

Đỗ Thị Huyền một quan sáu trăm đồng, Nguyễn Xuân Dục một quan ba trăm đồng, Nguyễn Văn Đa một quan hai trăm đồng, Phạm Hữu Thông một quan hai trăm đồng, Nguyễn Đình Mỹ một quan hai trăm đồng.

Những người công đức một quan ghi ở dưới: Bùi Thị Trường, Nguyễn Tiến Trọng, Bùi Khắc Trang, Phạm Công Thuần, Nguyễn Thị Băng, Hoàng Thị Sự, Hoàng Thị Mẫn, Bùi Thị Quyến, Nguyễn Thứ, Hoàng Công Châu Nguyễn Như Thuỷ, Hoàng Đức Lượng, Hoàng Thị Điểm, Hoàng Công Xiển, Hoàng Công Đạm, Hoàng Công Dị, Nguyễn Tiến Lưu, Hoàng Văn Nha, Khúc Thị Tư, Hoàng Huy Đán.

Những người công đức 900 đồng ghi ở dưới: Phạm Công Ô, Nguyễn Đình Vỹ, Mai Xuân Thôi.

Những người công đức 800 đồng ghi ở dưới: Nguyễn Thiên Tính, Nguyễn Thị Hiền, Nguyễn Trọng Khoáng.

Những người công đức 700 đồng ghi ở dưới: Phạm Công Khiêm, Hoàng Thị Bình, Phan Công Hứa.

Những người công đức 600 đồng ghi ở dưới: Hoàng Viết Vị, Nguyễn Đình Triết, Phạm Hữu Lễ, Nguyễn Đình Liêu, Hoàng Văn Cẩm, Nguyễn Xuân Quả, Hoàng Thị Kiều, Nguyễn Thị Miên, Đỗ Duy Thuần, Nguyễn Đường, Bùi Hữu Pháp, Nguyễn Đăng Đào, Hoàng Hữu Bột, Hoàng Quốc Lâm, Hoàng Viết Diệu, Đỗ Công Nhiên, Nguyễn Thiên Nguyện.

Những người công đức 500 đồng ghi ở dưới: Đỗ Công Cần, Hoàng Đức Tụng, Nguyễn Như Mùi, Dương Văn Vỹ, Nguyễn Khắc Kiêm, Nguyễn Khắc Tựu, Đỗ Bá Dị, Nguyễn Thị Trang.

Những người công đức 400 đồng ghi ở dưới: Hoàng Công Tích, Nguyễn Thị Hợi, Nguyễn Lượng.

Những người công đức 300 đồng ghi ở dưới: Nguyễn Như Đổ, Phạm Công Sản, Phạm Thị Vy, Phạm Hữu Thi, Phạm Thị Đoạn, Nguyễn Thị Đương, Hoàng Thị Vỉ, Bùi Văn Viên, Nguyễn Văn Nhuận, Nguyễn Như Mão, Hoàng Thị Dậu, Nguyễn Đình Đạt, Nguyễn Thiên Thọ, Phạm Công Tích, Hoàng Văn Viện, Nguyễn Bá Phấn, Dương Trọng Danh, Hoàng Văn Tiện, Dương Huy Bá, Hoàng Thị Đại, Nguyễn Tiến Tạo, Nguyễn Khắc Bả, Đỗ Văn Biện, Dương Văn Phái, Bùi Đình Huynh, Hoàng Đình Thiết.

Nguyễn Đình Cách người thôn Ngô cùng xã công đức một quan, Dương Đình Diệu một quan. Người trong làng Tạ Trung Cố, Nguyễn Thiên Đài.

Hầu hiến bộ người xã Thổ Khối cùng tổng công đức một quan, Đỗ Chính Đạo  600 đồng. Phạm Huyền Thực xã Cổ Bi cùng huyện công đức 500 đồng.

Đỗ Dư xã Cổ Lãm cùng phủ công đức một quan.

Phổ biến mọi người trên dưới toàn thôn, thập phương, khách thiện đã tuỳ duyên quyên góp công đức được đồng thiếc vàng tiền  nay công quả đã thành, mọi người đưởng hưởng trường tồn cùng trời đất, mọi người khoẻ mạnh, mọi vật sinh sôi, truyền lại điều tốt cho con cháu mai sau.

Thiền tăng ghi rõ ở chuông. Nhà chùa lưu lại cho mãi sau này.

Những bậc khai sáng chốn cửa chùa Thượng điện, Thiêu hương, Tiền đường, Hậu đường, Tả hữu hành lang, Tăng phòng, làm tượng, đúc chuông phát tâm cúng vào chùa ruộng, ao.

Thượng Đức Chân đà Tỳ kheo sa tăng Đào Nhân Vịnh tự là Đạo Trị pháp Huệ Vũ thiền sư. Trước kia trụ trì ở chùa Phúc, Tổ sư tự là Huệ Viên truyền cho con trai tự là Huệ Nương thiền sư, từ đó truyền về bản thôn là Hoàng thiền sư tự là Huyền Tiên hiệu đạo là Huệ Tăng hưởng thọ 84 tuổi, truyền cho con trai tự là Đức Trọng hiệu đạo là Huệ Dung thiền sư hưởng thọ 73 tuổi, truyền lại cho con trai trụ trì tại chùa Phúc. Hoàng Đức Tông tự là Pháp Linh hiệu đạo là Huệ Vỹ được 66 năm, tiếp sau là con trai Hoàng Đức Lượng tự là Phổ Tế hiệu đạo là Huệ Hồng phát con trai là Hoàng Nguyên, Hoàng Thượng, Hoàng Đổ cùng tu ở chùa.

Những bậc sau khai sáng cửa chùa năm nay: thôn trưởng Bùi Duy Trình, thôn trưởng Nguyễn Trọng Thuyên, Nguyễn Khắc Cẩn, Nguyễn Địch Triết, Dương Khánh Gia, Nguyễn Trọng Khoáng, Nguyễn Duy Châm, Nguyễn Lượng, Bùi Công Trợ, Đỗ Huy Sùng, Hoàng Quốc Lâm, Nguyễn Đình Vượng, Phạm Công Thanh, Nguyễn Danh Hương, Đỗ Huy Trân, Phan Viết Triều, Hoàng Huy Hợi, Nguyễn Khắc Hạp, Hoàng Đình Nghị, Đỗ Hữu Liệu, Hoàng Công Chu, Bùi Khắc Tráng, Nguyễn Như Vị, Hoàng Đình Vinh, Đỗ Bá Gia, Hoàng Công Quý cùng mọi người trên dưới trong thôn khởi công xây dựng tu sửa cảnh chùa, xây mới tường bao, sửa mái thượng điện, thiêu hương, tiền đường, hậu đưêng ( một vài chữ bị mờ).

Chứng giám lòng thành. Ơn tình khiến điều ghi nhớ, chiêm nghiệm cảnh ngộ, trăm phúc bền lâu, ngàn điều lành hội tụ.

Trước Chuyết Tế tiên sinh Quốc tử giám kính cẩn soạn, nay đệ tử cựu giáo Tịnh Thanh tập hợp thành văn.

Nam vô Trường thọ vương Bồ Tát tác đại chứng minh thiền môn con thứ Hoàng Nguyên cung viết.

Tiếng chuông reo.

Triều vua năm thứ đúc chuông.

                                                                                                                                          Bùi Thế Quân