di tích lịch sử

VÀI NÉT VỀ GIÁ TRỊ LỊCH SỬ VĂN HÓA ĐÌNH, CHÙA TRẠM PHƯỜNG LONG BIÊN, QUẬN LONG BIÊN
Ngày đăng 27/11/2015 | 13:52  | Lượt xem: 645

Một là, kiến trúc của thời Gia Long hiện còn lại rất ít (mà cái gì hiếm thì quý). Có thể chúng ta đã thấy được một kiến trúc điển hình như đình Tam Tảo (Từ Sơn, Bắc Ninh) rồi đình Yên Đông (đảo Hà Nam, Yên Hưng, Quảng Ninh) và một số (không nhiều) di tích khác nằm tản mạn tại nhiều tỉnh (Đức La…) trên những di tích hiện còn đó, dù cho có một phong cách mới đã xuất hiện, nhưng tinh thần của các thành phần kết cấu cùng nghệ thuật chạm khắc, theo truyền thống thế kỷ 17, vẫn tỏ ra mạch lạc, ấm áp, đầy đặn.

Đình và chùa Trạm là hai di tích hiện ở cạnh nhau, chung một tường ngăn, có thể coi như cùng một khuôn viên, nằm ngay gần chân đê tả ngạn sông Hồng. Đây là một địa điểm tham quan thích hợp, đường bộ thuận tiện, nếu cải tạo tu bổ đầy đủ hơn cũng sẽ là một điểm dừng của du lịch đường thuỷ. Hiện nay, cả hai di tích cùng quay hướng Nam ngả sang Tây 100, ở mặt phong thuỷ, thì đây là hướng thích hợp với quan niệm truyền thống, nhằm đề tao thiện tâm trên nền tảng trí tuệ, đồng thời cũng đề cao các vị thần… Mặt khác, ở trước mặt lại có dòng sông Hồng, được coi như dòng chu chuyển của mọi nguồn hạnh phúc, chảy từ phải qua trái, từ dương về âm, là phù hợp. Tuy nhiên, trong không gian riêng (nhỏ, thuộc khuôn viên) thì phong thuỷ của cả hai di tích này bị hạn chế nhiều. Cụ thể là: Còn đâu não thuỷ/ minh đường! Nhìn lại ngay trước mặt đình, phải chăng trước đây vẫn còn một chiếc ao/ hồ vừa đủ để tạo thế " âm dương đối đãi" theo quan niệm thuộc tư duy nông nghiệp truyền thống. Và, như thế thì cửa đình (có thể kiểu nghi môn trụ) cùng chiếc bình phong chống các cơn gió độc (chống sự xấu xa của đời thường, quỷ dữ ) sẽ nằm ở đâu tại phía trước (?).

Về Đình Trạm (hiện đang tồn tại), nếu nhìn đại thể thì thực sự đa phần là sản phẩm của thế kỷ 20, với bậc tam cấp bằng gạch ở phía trước, không còn đá bó vỉa. Kết cấu theo kiểu "tường hồi bít đốc tay ngai kép", hai đầu bổ trụ, đội lân trong tư cách kiểm soát tâm hồn kẻ hành hương, tạo uy linh nhà Thánh. Đình có 5 gian, bịt mặt 2 gian đầu, hai gian tiếp đóng ván đố và gian giữa lắp cửa bức bàn (ván kín). Ngưỡng cửa cao ngang nhau ở cả ba gian giữa, cho thấy tinh thần tín ngưỡng gắn với kiến trúc cổ truyền phần nào đã tàn phai (thông thường xà ngưỡng gian lòng nước ở các đình cổ bao giờ cũng thấp hơn các gian bên, để tiện cho việc hành lễ và rước kiệu Thánh).

Cấu trúc của đình chính, về cơ bản vẫn là khung gỗ, các gian bên theo kiểu chồng rường ở "vì nóc" và "cốn" theo kiểu kèo ngồi đơn giản. Các con rường này cũng như hoành mái có tiết diện chữ nhật, đó là sản phẩm của kiến trúc cổ truyền, chỉ xuất hiện phổ biến ở nước ta từ đầu thế kỷ 20. Tuy nhiên, qua nhiều đợt tu bổ, người đương thời rất có ý thức giữ lại những mảng chạm trổ cùng kết cấu (ở gian giữa). Đó là một may mắn để định giá trị nghệ thuật cho đình. Bộ vì nóc ở gian này cũng như cốn (phần kết cấu nối giữa cột cái và cột quân) đều làm theo kiểu ván mê bưng kín. Toàn mặt vì nóc chỉ chạm nổi mặt mặt hổ phù lớn ngậm chữ Thọ. Người ta như cố tình tạo nên sự gồ ghề, nhằm nhấn mạnh sức thiêng của linh vật. Nhưng, nhìn toàn cục với các đường lượn uyển chuyển mềm mại, nhịp nhàng… thì những nét trữ tình thuộc tư duy nông nghiệp truyền thống của dân tộc vẫn bao chùm lên tất cả. Rằng: Hổ phù là sản phẩm của việc "Khuấy biển sữa" vũ trụ. Vốn từ một con quỷ, đứng lẫn trong hàng ngũ các thần, sau khi uống được ngụm thuốc trường sinh thì bị các thần mặt trời, mặt trăng mách với vị thần tối thượng, quỷ bị chém đôi, nhưng do đã uống thuốc, nên không chết được các thần cho lên trời, thành hai ngôi sao độc là Hổ phù và Kế đô. Hổ phù căm thù mặt trời mặt trăng, nên luôn đuổi theo để nuốt, khiến trần gian thường bị nhật thực hoặc nguyệt thực. Người Việt cũng như nhiều cư dân nông nghiệp khác (chịu ảnh hưởng văn hoá Ấn Độ) Thường có quan niệm: mặt trời là nguồn sinh lực "vô bờ bến" tạo nên sự sống cho muôn loài muôn vật ở thế gian này. Nhưng, mặt trăng lại có tác dụng lớn trong việc phát sinh phát triển, mầm mống của các vụ mùa bội thu, gắn với ước vọng "muôn đời muôn thuở" của kinh tế nông nghiệp xưa. Như thế người Việt thường chú ý tới nguyệt thực với nhận thức: Nếu nguyệt thực toàn phần thì đó là điềm mất mùa, đói hoặc xảy ra chiến tranh, còn nguyệt thực một phần thì đó là điềm được mùa lớn. Vì vậy cũng như cư dân Đông Nam Á, trong nghệ thuật tạo hình, người Việt thường thể hiện Hổ phù đang ọe mặt trăng ra, như một biểu tượng cầu phồn thực. Dần dần, thay cho mặt trăng, có khi là bông hoa thiêng, tượng cho một nguồn phát sáng, hay cũng nhiều khi là chữ Thọ (tất nhiên chỉ có một phần, như hiện có ở đình này). Đó là trung tâm của ngũ phúc (Phú, Quý, Thọ, Khang, Ninh) với ý thức như muốn nhắc nhở với các vị thần rằng: Hãy theo sự gợi ý của chúng tôi đây mà đưa "Ngũ phúc lâm môn" tới cho muôn dân ở thế gian. Tinh thần này cho thấy con người và thần linh Việt gẫn gũi nhau hơn chúng ta từng tưởng.

Trở lại với phần kết cấu của kiến trúc. Đội cả bộ vì nóc là một chiếc xà lớn gọi là "quá giang", có đầu ăn mộng vào đầu cột cái. Ở bụng "quá giang" bên tả có đề hàng chữ: Hoàng triều Gia Long thập thất niên, thập nhất nguyệt, nhị thập nhị nhật, lương thời thụ trụ thượng lương đại cát" cho biết niên đại hoàn thành cụ thể của đình này vào ngày 22 tháng mười một âm lịch năm Gia Long thứ 17 (tức năm 1817). Bằng vào sự đối sánh nghệ thuật tạo hình, chúng ta có thể tin tưởng được là đại bộ phận kết cấu vì nóc và các bức cốn của gian giữa thuộc niên đại này. Từ đây có một số vấn đề được đặt ra như  sau:

Một là, kiến trúc của thời Gia Long hiện còn lại rất ít (mà cái gì hiếm thì quý). Có thể chúng ta đã thấy được một kiến trúc điển hình như đình Tam Tảo (Từ Sơn, Bắc Ninh) rồi đình Yên Đông (đảo Hà Nam, Yên Hưng, Quảng Ninh) và một số (không nhiều) di tích khác nằm tản mạn tại nhiều tỉnh (Đức La…) trên những di tích hiện còn đó, dù cho có một phong cách mới đã xuất hiện, nhưng tinh thần của các thành phần kết cấu cùng nghệ thuật chạm khắc, theo truyền thống thế kỷ 17, vẫn tỏ ra mạch lạc, ấm áp, đầy đặn… chúng chưa quá thanh mảnh và có những nét tỏ ra gai góc như từ cuối thời Tự Đức (cuối TK 19) trở về sau. Đó cũng là một đặc điểm của nghệ thuật chạm khắc ở đình Trạm (phần gian giữa, đã được ghi rõ niên đại cụ thể).

Hai là, các "đầu dư" của gian giữa (phần kết cấu đội quá giang) vẫn là các đầu rồng chạm theo kiểu khối tròn, dưới dạng bong kênh… Đó là hình thức phổ biến chung cho mọi thời, nhưng đáng quan tâm nhất ở đây là hệ đao mác với mũi vuốt thẳng. Nếu như những đao này (một biểu tượng của sấm chớp, tia sáng/ lửa…), thản hoặc (dưới thời Nguyễn) đã gặp được trong trang trí của hiện vật thời Nguyễn, thì tại đây, gần như chúng tôi gặp được nó vẫn tồn tại trên kiến trúc (dù có đơn giản đi chút ít).

Ba là, trong hệ linh vật được chạm ở trên "Cốn", đều có nền là vân xoắn, sóng nước bạc đầu và hồ sen, thoảng đâu đó như có sự tiếp thu phần nào của nghệ thuật dân dã và Phật giáo. Nổi bật nhất trong cả bố cục là rồng đang vận động một cách mạnh mẽ, như sự vận động của bầu trời để tạo nguồn nước cho trần gian  sinh sôi, mà biểu hiện bằng "rồng cuốn thuỷ" và "cá chép vượt vũ môn". Góc trên cùng là nơi của phượng, với cách thể hiện tượng trưng, nhưng cũng đủ để nói lên uy lực của Thánh nhân. Điểm xuyết trong không gian của rồng là lân, có con khá dữ tợn đối mặt với rồng, dưới hình thức "Long hổ hội" (sự quần tụ của trí thức với ý nghĩa phi trí bất hưng).

Có con lại mang hình thức long mã (linh vật đội đồ hình gắn với việc tạo lập thế giới, hoặc việc trị thuỷ…) Ba linh vật này đều gắn với tầng trên, còn rùa thì xuất hiện rất dè dặt. Liên hệ với mỹ thuật tạo hình Huế, dưới thời Gia Long, Minh Mạng, phần nào cả ở thời Thiệu Trị gần như không có bộ tứ linh (dù cho ở đất Bắc đã xuất hiện từ TK 18). Người ta cho rằng rùa là con vật ở tầng dưới và mai khum khum của nó bị gán cho có hình tượng không mấy tốt đẹp. Vì thế, tuy rùa đội bia ở Văn Miếu Huế khá nhỏ, nhưng thân lại rất dầy. Phải chăng ý thức này đã gợi ý cho chúng ta suy nghĩ về các bức cốn ở đình Trạm.

Về các đồ thờ của đình, gần như bị mất hết qua thời gian chiến tranh. Nay chỉ gồm hầu hết là các đồ mới không mấy giá trị về nghệ thuật. Nơi đây, ở trong cùng của hậu cung hiện thờ vị Thành hoàng chung của cả xã là: "Tương liệt đại vương, Nguyễn Thành Công", một vị tướng tương truyền là của Hai Bà Trưng.

Tiếp tới là ba ngai với ba bài vị: Nam Khê thần vũ đại Vương Ngọc bệ hạ (truyền lại là Linh Lang). Đô thống anh linh thượng đẳng thần Ngọc bệ hạ (truyền lại là Lê Phụng Hiểu); Xuyên hoa công chúa Ngọc bệ hạ… Nay thần tích và sắc phong không còn nên khó điều tra được vai trò của các vị đối với vùng đất này. Tuy nhiên, riêng Linh Lang một thần rắn được nhân hoá, ít nhất ở thời Lý, Ngài thường gắn với con sông tiêu nước Tô Lịch. Phải chăng từ vai trò đó mà Ngài cũng có mặt ở bên tả ngạn sông Hồng để hội vào sông Nghĩa Trụ phía sau đình, rồi vào dòng chảy phía trước mặt mà xuôi về Nha. Có lẽ trước đây cho rằng các dòng này đã có tác dụng chống lầy lội của vùng này để dân yên vui hạnh phúc trong việc bảo hộ của Thánh Linh Lang (?).

Về chùa Nghiêm Quang: Chùa cũng có phần mới được tu bổ lại (cách đây không lâu), chủ yếu theo hình thức bào trơn đóng bén, không mấy giá trị về nghệ thuật, trong đó có nhiều sự sai lệch. Cụ thể như Tam Quan lại làm theo lối nghi môn của đền miếu, chùa chính không khác đình bao nhiêu, cũng theo lối 5 gian "tường hồi bít đốc". Các tượng trên Phật điện, ngoài những pho Bồ Tát làm gần đây thì nhiều tượng Phật được làm đơn giản nhưng khá chuẩn và chủ yếu là sản phẩm của thế kỷ 18 (cách nay khoảng xấp xỉ 250 năm). Tính dân gian của tượng được thể hiện ở chỗ không phân định rành mạch giữa nhục kháo (Unisa – biếu thông minh của Phật) và hộp sọ. Đó là bộ Tam Thế Phật và A Di Đà Phật. Khuôn mặt tượng khá đẹp, phúc hậu với hình trái xoan, dù cho mọi bộ phận của mặt đều mang giá trị biểu tượng, song thực sự vẫn rất ấm áp gần gũi, nhất là ở nụ cười cảm thông và cứu độ, tai tượng to dày nhưng chưa bị ép ở giữa thân nên thuỳ tai không bị vểnh ra như của tượng thời Nguyễn. Chữ Vạn ở ngực tượng quay đúng chiều (ngược kim đồng hồ…) áo chưa quá nhiều nếp, chưa có hiện tượng võng lõm cong giữa hai nếp.v..v. nhìn chung các chi tiết được làm khá kỹ, có suy nghĩ… Tuy nhiên, cách sắp xếp các tượng hiện nay đã quá lộn xộn, cần phải được bày biện lại để không làm "rối loạn" đạo Pháp. Trong chùa cũng còn một cỗ ngai và bài vị có niên đại tượng đồng với các tượng Phật kể trên, rồi một quả chuông làm vào năm 1718. Tất cả hội lại đã cho biết chùa được làm trước đình. Và trong một sự may mắn hiếm có, chúng tôi đã tìm được ba hòn chân tảng bằng đá mài, những hiện vật thường chỉ gặp ở thời Lý và Trần. Ngoài ra cũng tại móng chùa còn có nhiều gạch hòm sớ (thường có cỡ 15cm x 15cm x 40cm) đó là sản phẩm được sử dụng từ thế kỷ 15 tới nửa đầu thế kỷ 17. Những phát hiện này buộc chúng tôi phải gia công suy nghĩ nhiều hơn nữa bởi có thể có sự tồn tại của một ngôi chùa rất cổ cùng một số vấn đề liên quan (chẳng hạn như mối quan hệ với đê điều của đương thời….) đã gắn với các di tích này.

Suy cho cùng chùa, đình Trạm đã chứa đựng một giá trị tự thân tiềm ẩn, đang đòi hỏi chúng ta phải nghiên cứu sâu hơn nữa để trả lại cho chúng sự vinh quang đích thực với lịch sử, góp phần đóng góp vào sự nghiệp phát triển văn hoá chung của Thủ đô.