di tích lịch sử

HỘI LÀNG NGÔ PHƯỜNG THẠCH BÀN QUẬN LONG BIÊN - NÉT ĐẸP VỀ GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA
Ngày đăng 01/12/2015 | 09:15  | Lượt xem: 2914

Hội làng Ngô phường Thạch Bàn với những giá trị tiêu biểu, cần thiết phải bảo tồn những nghi thức đó nhằm phát huy truyền thống tốt đẹp của địa phương.

Đình làng Ngô nằm ở giữa làng, phía trước là cánh đồng. Đình quay hướng Đông – Nam thuộc địa bàn phường Thạch Bàn, quận Long Biên, Hà Nội. Xưa kia, trước cửa đình có dòng sông nhỏ chảy qua rồi nhập vào dòng Nghĩa Trụ ở đoạn làng Cầu Bây. Dòng sông này về sau bị thu hẹp, đã một thời các cụ trong làng cải tạo thành mương, ven bờ trồng cây ăn quả. Trước cảnh đẹp và vị thế địa của đình, chùa làng Ngô, khi qua đây nhà thơ Vũ Trần Long đã có mấy vần thơ tức cảnh:

" Đình Ngô ở giữa làng Ngô

Cạnh chùa Linh Ứng có hàng dừa xanh

Dòng sông uốn lượn bao quanh

Nhập vào sông Nghĩa ( Trụ) để anh mát lòng"

         

          Đình làng Ngô thờ Linh lang đại vương và Lã Lang đại vương. Truyền thuyết kể lại: Linh Lang và Lã Lang là 2 vị tướng nhà Lý. Trong trận tuyến sông Cầu, Lã Lang bị thương phải đưa về hậu cứ cứu chữa. Khi đi qua Ngô trại được 2 mẹ con bà bán hàng nước ( vốn là Phu nhân và Công chúa cải trang) nhiệt tình cứu chữa. Khỏi vết thương, trên đường ra trận, Linh Lang và Lã Lang qua Ngô trại để gặp phu nhân, công chúa và được phu nhân cầu nguyện thiên địa cho 2 vị để thắng giặc. Quả nhiên khi 2 vị ra trận toàn thắng, sau đó 2 vị trở về Ngô trại để tạ ơn thì được tin Phu nhân và Công chúa đã mất. Hai vị bèn tâu với triều đình về công lao của Phu nhân và Công chúa. Nhớ công ơn đó, triều đình đã phong sắc cho hai vị là: " Cẩn tiết Phương Dung phu nhân" và " Hạnh Hoa công chúa" và ban cho nhân dân Ngô trại lập nghè tôn thờ mãi mãi. Tưởng nhớ công lao xả thân vì nước của 2 vị Linh Lang và Lã Lang, sau này nhân dân làng Ngô dựng đình đã tôn thờ 2 vị làm Thành hoàng làng. Như vậy đình và nghè Ngô có mối quan hệ mật thiết với nhau. Tục hèm làng Ngô kiêng húy khoai lang đọc là khoai dây và không gọi nước lã.

          Đình làng Ngô có các đơn nguyên giếng đình, nghi môn dạng tứ trụ lồng đèn và tòa đình chính. Bố cục mặt bằng hình chữ Đinh, gồm Đại đình 5 gian tường hối bít đốc, Hậu cung 3 gian chạy dọc. Trên kiến trúc tòa Đại đình vẫn còn bảo lưu một số mảng chạm ở Cốn, Đầu dư mang phong cách nghệ thuật Lê ( đầu thế kỷ XVIII). Nghè Ngô nằm ở chân đê sông Hồng, ven rìa xóm Lẻ có qui mô vừa phải với bố cục hình chữ Đinh, Tiền bái 3 gian tường hồi bít đốc, Hậu cung 2 gian chạy dọc là nơi thường ngự của Phương Dung phu nhân và  Hạnh hoa công chúa.

          Hội làng Ngô nổi tiếng trong vùng về nghi thức rước kiệu, câu ca dân gian vẫn truyền tụng:

" Làng Cầu chạy ngựa

Làng Cự kéo co

Làng Ngô rước kiệu"

          Hội làng Ngô trước đây được tổ chức trong 5 ngày ( từ ngày mồng 10 đến ngày 15 tháng hai âm lịch). Hiện nay do điều kiện nên chỉ tổ chức trong 3 ngày    ( từ ngày mồng 10 đến ngày 12 tháng hai âm lịch). Để chuẩn bị vào hội, khoảng từ ngày mồng Một tháng Giêng đến mồng 7 tháng Giêng, các cụ trùm, hương, phe giáp họp bàn. Cũng trong khoảng từ ngày mồng 5 đến mồng 10 tháng Giêng, giáp đăng cai cử một cụ có phẩm hạnh, song toàn làm chủ tế để rước văn tế về đình. Bài văn tế được sử dụng trong suốt 5 ngày hội. Làng có 4 giáp: Lẻ, Nam, Đông, Đình, mỗi giáp cử 5 cụ trong ban tế và tổ chức tập tế rất cẩn thận trước hội khoảng 15 ngày. Đám rước kiệu là những nam thanh được chọn rất kỹ, có sức khỏe, chưa vợ, tuổi đời từ 18 đến 22. Khi được chọn vào rước kiệu họ rất tự hào, phấn khởi và ăn ở tại đình trước hội một tuần để chay tịnh.

          Trong ngày họp bàn mở hội, các phe giáp tu sửa 2 đến 3 yến gạo nếp thổi xôi và thủ lợn làm lễ tế Thánh. Các phe giáp cử các giai nhân làm cỗ, các giai nhân là những người tuổi từ 49 đến 55, phục vụ hội trong 5 năm. Theo lệ làng thì 52 tuổi mới chính thức lên lão. Lễ Thánh xin mở hội phải xin đài âm dương, âm dương sấp ngửa là Thánh đã chứng hội. Lễ Thánh xong, mọi người thụ lộc tại đình.

Sáng ngày mồng 9 tháng hai, dân làng tổ chức bao sái đồ thờ tự, làm lễ Phong y và tế mộc dục để chuẩn bị cho ngày mồng 10 chính thức khai hội.

Sáng sớm ngày mồng 10 tháng hai, Ban tế văn, vọng lão cùng dân làng tề tựu trước đình trong nghi thức cờ, biển, chấp kích làm lễ xin rước văn. Trưởng đoàn rước văn được gọi là " Sứ giả" đến nhà ông soạn văn để rước, sử giả đi rước văn được cung kính che lọng. Người được cử soạn văn là người có chữ nghĩa trong làng. Khi được soạn văn tế thì được thờ văn tại nhà. Theo lệ, ông soạn văn phải nuôi lợn khoảng từ 50 đến 60 cân và trong ngày rước phải khao làng. Lợn mang đến đình làm cỗ chia cho các phe giáp, các cụ thượng, hương lão theo qui định.

Hội làng Ngô không rước nước mà chỉ rước kiệu từ đình lên nghè và ngược lại trong một cung đường khoảng hơn cây số. Đoàn rước kiệu với sự tham gia của cả làng, chỉ để lại một số người trong phe giáp đăng cai ở lại. Trai rước kiệu mặc áo the đen vận đai đỏ, đội nghi thức khác mặc quần  vàng, khoác áo đỏ, đai lưng đỏ, đầu quấn khăn đỏ. Đi trước đoàn là biển " Tĩnh túc" và " Hồi tỵ" ( Nghiêm trang và tránh đường), tiếp theo là cờ quạt, chấp kích, bát bửu, chiêng, trống, phường bát âm, tàn, tán, long, kiệu và nhân dân theo sau hộ giá. Kiệu rước có rước ngai, bài vị từ nghè về đình để làm lễ nhập tịch. Sau này, dân làng không rước ngai, bài vị và chuyển sang rước bát hương. Đoạn đường rước kiệu tuy không xa nhưng chí ít cũng phải đến giờ Ngọ, kiệu mới rước về đình. Số lượng trai rước kiệu bát cống phải có số lượng gấp đôi, gấp ba để thay phiên. Họ không thấy mệt mà chỉ thấy thăng hoa phấn chấn như nhập đồng. Kiệu rước không đi thẳng từ đình đến nghè mà thường rẽ vào các địa danh cổ trong làng như vào chùa bái Phật hoặc rẽ vào nơi mà các cụ trong làng truyền lại là những địa chỉ liên quan đến nơi khao quân, mộ tướng của Linh Lang và Lã Lang trước đây chuẩn bị tập hợp lực lượng đánh giặc Tống. Kiệu rước xoay ngang, xoay dọc, nghiêng nghiêng trầm bổng tưởng là đổ nhưng nâng nâng khó tả. Nhiều lúc kiệu quay tròn, xô nghiêng tiến lui bất thường, lúc chạy dọc lên trước, lúc xoay lùi cuối đoàn. Trên cung đường rước lúc nào cũng lao lao, xô đẩy trong tiếng reo hò của đoàn người. Hiện tượng đoàn rước như thế tưởng là hỗn độn nhưng đó là tiếng lao xao từ thời hỗn mang vọng về, tiếng thầm thì của tổ tiên vọng đến. Đoàn rước lúc đầu còn hỗn độn, chưa có trật tự, sau đến nghè và đình thì trật tự nghiêm trang. Hiện tượng này mang tâm tưởng của thời hỗn mang, sau đi vào trật tự như chu trình thời vụ của cư dân nông nghiệp. Thông qua đó như gợi ý với trời đất, quỷ thần hãy ban đến cho dân làng những mùa màng bội thu.

Trong mấy ngày hội, dân làng có tổ chức đánh cờ tướng, đánh tổ tôm điếm và đặc biệt là đấu vật. Đấu vật làng Ngô có truyền thống từ lâu đời. Bãi vật là khu đất đầu xóm Đông gần đình. Trai làng, ai có sức khoẻ thì tham gia, không hạn chế hay phân biệt người làng này, làng khác, cũng chẳng cần vẽ vòng tròn gì cả. Chỉ cần mấy cây tre buộc ngang làm rào để người xem đừng xô đẩy nhau ngã vào sới vật trong thời gian cuộc đấu đang diễn ra, thế là đủ. Các đô vật phải cởi trần, đóng khố. Có người đóng khố hai vòng, khố dài mười hai vuông vải, đắt tiền hơn cả quần. Vào cuộc đấu, trống thúc giục giã, hào hứng. Trọng tài tay cầm trống con, tuyên bố vắn tắt về luật lệ và giới thiệu từng cặp đô vật để người xem biết và cổ vũ. Hai tay vật vào cuộc, lừa nhau xoay qua xoay lại, chân nhún nha nhún nhảy, tay huơ bên đông lại huơ bên tây, vờn nhau như mèo vờn chuột, khi tiến khi lùi, cúi xuống nhô lên… làm sao ôm được đối thủ và nhấc bổng lên khỏi mặt đất là thắng, hoặc vật ngửa lấm lưng, trắng bụng. Được một keo vật thì thưởng một cái oản nếp to và ba quả chuối. Thua chẳng được gì. Tự động ra, cùng cười vui với bà con. Cứ thế lại đôi khác tiếp tục cho đến khi nào hết người ứng thí hoặc cuối ngày.

Các ngày tiếp theo, lần lượt các phe giáp và dân làng theo chức vị tổ chức lễ Thánh và thụ lộc tại đình. Ngày 15 tháng hai là ngày rã đám, nhân dân tổ chức rước rã và tế hoàn cung. Trong điều kiện hiện nay, cần thiết phải bảo tồn những nghi thức tiêu biểu nhằm phát huy truyền thống tốt đẹp của địa phương.