di tích lịch sử

HỘI LÀNG SÀI ĐỒNG, PHƯỜNG PHÚC ĐỒNG - MỘT VÀI GIÁ TRỊ TIÊU BIỂU
Ngày đăng 29/12/2015 | 14:35  | Lượt xem: 1521

Hội làng Sài Đồng có nhiều trò chơi độc đáo, mà trong đó "Đánh đu" là một nghi thức cộng đồng như muốn gợi ý với thần linh: hãy cho dân làng sự ấm no, hạnh phúc.

 Đình làng Sài Đồng, phường Phúc Đồng hiện nay vốn là ngôi Nghè thờ Thành hoàng làng Linh Lang đại vương. Đình quay hướng Nam, nằm ngay sát quốc lộ số 5. Các già làng kể rằng: xưa kia làng Sài Đồng thuộc xã Cự Linh, tổng Cự Linh, khu vực thuộc tổ 13 phường Long Biên hiện nay. Năm 1889 do phát triển dân cư nên được tách khỏi xã Cự Linh và trở thành xã Sài Sài Đồng thuộc tổng Cự Linh. Ruộng lúa làng Sài Đồng rất rộng nên trong vùng có câu: " Tiền nhà chúa, lúa Sài Đồng". Cánh đồng rộng là như vậy nên thường xuyên bị mất trộm, dân làng bèn xin quan trên cho chuyển về vị trí hiện nay để đảm bảo an ninh cách nay trên trăm năm. Đình và nghè cũng được di dời sang bên này. Trong những năm 1945 – 1946, đình làng là nơi dân quân tự vệ hoạt động. Trên tường đình làng có vẽ hình 2 du kích, khi giặc Pháp tái chiếm, đình làng gần khu vực sân bay Gia Lâm nên giặc Pháp đã tưới xăng đốt đình để tránh hậu họa. Đình bị đốt, còn lại mốt số đồ thờ, nhân dân chuyển về Nghè và từ đó đến nay Nghè được sử dụng thành đình.

Vốn là Nghè nên đình Sài Đồng có quy mô vừa phải, phía trước có giếng hình tròn ăn thông một phần dưới nhà Cầu, phía trên nhà Cầu được xây vòm cuốn. Đây là hình thức hiếm gặp ở các công trình truyền thống. Tòa Đại đình 5 gian tường hồi bít đốc, tiếp sau là phương đình nối Đại đình với Hậu cung, trên tổng thể có kết cấu hình chữ Đinh. Hai bên có tả hữu giải vũ tạo thành khuôn viên khép kín. Trang trí kiến trúc chủ yếu chạm nổi, bong kênh đề tài rồng, lá thiêng,   "Tứ linh", "Tứ quý" mang phong cách nghệ thuật Nguyễn (cuối thế kỷ XIX).

        Hội làng Sài Đồng trước đây được tổ chức từ ngày mồng 7 tháng hai đến ngày 12 tháng hai lịch trăng. Chuẩn bị vào hội, ngày 25 tháng Giêng, các giáp Đông, Đoài gồm những trai đinh từ 18 tuổi trở lên đến các hương lão họp bàn mở hội. Sáng mồng 7 tháng hai, dân làng bao sái, buổi chiều tế mộc dục và phong mã, lễ vật chỉ có hương hoa. Cũng trong buổi sáng mồng 7 tổ chức rước nước, đoàn rước khoảng trên 30 người đi rước nước ở bến Bồ Đề. Hiện nay không rước nước từ bến Bồ Đề nữa mà dân làng xin nước ngay tại giếng Nghè. Các cụ kể rằng: dải đường từ Sài Đồng lên đến làng Thượng Cát (phường Thượng Thanh) là Long Đạo (đường rồng), mà Sài Đồng là phần đầu, Thượng Cát là phần đuôi rồng. Việc dân làng lấy nước ở giếng nghè là xin nước long tỉnh tức là nước thiêng. Sáng mồng 8 tế phụng nghênh rước bài vị, bát hương lên đình tế an vị và lễ nhập tịch, mỗi giáp chuẩn bị một ông Ỷ ( lợn) tế Thánh. Phần tế Thánh có xin kèo âm dương. Ông chủ tế phải ăn ở tại đình trong suốt các ngày hội. Khi xưa còn đình, dân làng tổ chức rước ngai, bài vị từ nghè về đình xong mới làm lễ nhập tịch. Đoàn kiệu bát cống với 16 người luân phiên rước, đi cùng là các nghi thức cờ quạt, biển bảng, bát âm, chấp kích, bát bửu tựa như đoàn rước của triều đình. Thường thì múa sư tử được tổ chức vào mùa Thu nhưng ở trong đoàn rước hội làng Sài Đồng cũng có múa sư tử. Có một người đội đầu sư tử, đi sau là người cầm đuôi trong động tác múa theo nhịp trống thùng thình. Đầu con sư tử chỉ thể hiện có một sừng. Vì một sừng là biểu tượng của sự khuyết mà ở đây là hình tượng vầng trăng đầu và cuối tháng. Và, đi cùng nó, ở phía dưới miệng sư tử là mảnh trăng khuyết mầu đỏ. Đuôi sư tử là dải lụa mầu huyết. Đó là mầu của sinh khí, đây là sinh khí của tầng trên tràn về tầng dưới.

Múa sư tử là điệu múa " vũ trụ", nó thể hiện cho bầu trời vẫn vũ. Để biểu đạt cho bầu trời, nhất thiết phải có hình tượng ông Sao đi cùng, rồi biểu tượng của sấm do người cầm quả lôi múa phía trước trong động tác vờn dỡn; hòa cùng đó là trống sấm với biểu tượng: tang trống mầu đỏ có nền vân mây. Trong tiếng trống rộn rã, bầu trời đang uốn lượn vẫn vũ để tràn sinh khí về cho trần gian. Luồng sinh khí ấy thông qua mưa gió, tràn về đất để cho muôn loài sinh sôi phát triển. Như "nắng hạn gặp mưa rào" lòng người như được thỏa mãn với biểu trưng hình tượng ông Địa có vẻ mặt cười toe toét, đang cầm quạt thong thả phất qua phất lại thản nhiên. Buổi tối các ngày mồng 8, mồng 9 và mồng 10 có tế Hàn Âm và hát nhà tơ ( ca trù), hát chèo. Buổi sáng mồng 8 và mồng 10 tế có 2 ông Ỷ, sáng mồng 9 thì cúng xôi gà. Ngày mồng 10 tổ chức tế hóa nhật, ngày 11 rước nghênh bài vị, bát hương về nghè. Làng Sài Đồng có tục kết chạ với làng Mai Phúc. Ngày mồng 8 chạ anh Mai Phúc xuống làm lễ Thánh và giao lưu trầu nước. Ngày 13 làm lễ tế Xuân đóng cửa đình.

Hội làng Sài Đồng có trò chơi đánh đu, cây đu được dựng từ tết Nguyên Đán cho đến hội trên bãi rộng chếch bên phải đình cao từ ba đến bốn mét, trò chơi không chỉ chơi có một người mà cũng không phải giới nào chơi giêng giới ấy, phải có nam, có nữ mới nên " Xoan" trai gái cùng đứng sát đối mặt trên một cây đu cùng dún đu xung quanh bao nhiêu cặp mắt nhìn cười nói, hò hét động viên khích lệ sôi nổi đúng như " Bà chúa thơ Nôm " Hồ Xuân Hương đã tả:

Trai du gối hạc khom khom cật

Gái uốn lưng ong ngửa ngửa lòng

Bốn mảnh quần hồng bay phấp phới

Hai hàng chân ngọc duỗi song song

Trò chơi này đã vứt bỏ sự kiêng kỵ ngày thường, để ra bên cái lễ giáo phong kiến "Nam nữ thụ thụ bất thân". Đồng thời như gợi ý với thần rằng hãy cho chúng dân những nguồn hạnh phúc.

Hội hè và phong tục truyền thống đã giữ lại cho ta một số chứng liệu về nếp sống tinh thần, mang một ý nghĩa lịch sử và văn hoá một biểu hiện của nền văn hiến lâu đời. Vui hội mùa Xuân ngoài những nghi lễ thì bên cạnh đó có các trò diễn hun đúc trí thông minh, tài khéo léo, rèn luyện thể lực, trao đổi tình cảm… đã góp phần củng cố tinh thần cộng đồng của làng quê Việt Nam.