tin mới nhất

Công đức vào lễ hội đình Tình Quang - niềm tự hào của người dân nơi đây
Ngày đăng 19/03/2019 | 16:03  | Lượt xem: 71

Đã bao đời nay, Hội làng Tình Quang đã trở thành nếp sinh hoạt, tôn giáo, truyền thống, là nét đặc sắc của người dân nơi đây. Người dân Tình Quang coi lễ hội là dịp để dân làng ôn lại công đức của các vị tiền nhân, có công giúp nước, xây dựng xóm làng. Lễ hội cũng là dịp để nhân dân trong làng báo cáo những giá trị và thành tích trong lao động, sản xuất, tự hào với truyền thống của làng, góp công, góp sức cùng tổ chức lễ hội truyền thống của làng thêm phần long trọng. Có thể nói đình Tình Quang là niềm tự hào về giá trị truyền thống, lịch sử của người dân nơi đây.

Vài nét về đình Tình Quang – Phường Giang Biên

Đình làng Tình Quang nằm ngay sát chân đê, tả ngạn sông Đuống. Vào năm Tự Đức thứ 9 (1856), khi con sông Đuống được đào để thay thế sông Thiên Đức thì làng Vịa bị chia đôi thành Vịa lớn (nay là làng Tình Quang ở bên bờ nam) và Vịa con (nay là Cống Thôn ở bờ bắc). Năm 1913, đê bị vỡ phải đắp đê quai. Vì vậy đình nằm ở ngoài bãi.

Căn cứ vào tấm bia niên hiệu Chính Hòa (1676) và các dấu vết kiến trúc hiện còn thì đình Tình Quang được khởi dựng vào đầu đời Lê – Chính Hòa[1]. Tổng thể mặt bằng của Tình Quang gồm: Cổng đình, sân đình, tả hữu mạc và đại đình. Tòa đại đình có bộ khung với niên đại sớm nhất vào thế kỷ XVII, riêng phần mái được làm lại vào năm 2002. Tòa hậu cung, nghi môn và hai dãy tả vu, hữu vu đều có niên đại thế kỷ XX. Như vậy khi xây dựng, đình mang hình chữ nhất. Hiện nay, đình Tình Quang có bố cục kiến trúc hình chữ Đinh gồm: 5 gian 2 chái của tòa đại đình và 3 gian hậu cung. Phía trước có nghi môn, hai bên là hai dãy tả vu, hữu vu. Đại đình to lớn bề thế được làm theo kiểu tàu đao lá mái với 6 hàng chân cột, 60 cột gỗ tròn được làm theo kiểu thượng thu, hạ thách.

Có thể nói, giá trị nổi bật của di tích đình Tình Quang là phần Nghệ thuật trang trí trên kiến trúc. Có lẽ hiện nay, trong nội thành Hà Nội chỉ còn một vài di tích giữ lại được nhiều mảng chạm với các đề tài phong phú, uyển chuyển mang đầy tính nghệ thuật và mang những ý nghĩa sâu xa như ở đình Tình Quang. Các mảng chạm tập trung nhiều nhất ở cốn nách, đầu dư, kẻ hiên, câu đầu, cửa võng với những đề tài quen thuộc như Chim, Phượng, Lân, cúc mãi khai, vân soắn, vân dấu hỏi, đao mác, Rổng ẩn trong các đám mây. Những hình tượng này mang đậm nét đặc trưng của phong cách kiến trúc thời Lê Trung Hưng (Thế kỷ thứ XVIII). Ở đây chủ yếu là hình tượng Tiên cưỡi Rồng, Rồng ổ, lân, tiên múa. Hình tượng những cô tiên với những cánh tay dang rộng nâng dải khăn mềm được thể hiện rõ nét với bộ mặt tròn chĩnh, tai đeo hoa chảy dài xuống dưới cổ kiêu ba ngấn với điệu múa vũ trụ cưỡi trên đầu Rồng. Tất cả tạo nên một bức tranh tổng thể sinh động và linh thiêng, thể hiện ước vọng của người dân trong việc cầu mong sự no đủ, hạnh phúc, mưa thuận gió hòa, muôn vật sinh sôi, nảy nở, phát triển, hòa bình, không có chiến tranh. Đây cũng là khao khát vùng lên mong thoát khỏi sự đè nén áp bức của chế độ phong kiến. Ngước mắt nhìn lên toàn cảnh không gian di tích, chúng ta đang nghe tiếng của ngàn xưa thăm thẳm vọng về. Đó chính là tiếng lòng từ sâu thẳm, thiết tha mà trong sáng, giản dị mà uy nghi của ông cha ta từ bao đời nay.

Lễ hội trong tâm thức người dân Tình Quang

Đình làng Tình Quang thờ 3 vị thành hoàng làng là: Lý Bí (Lý Nam Đế), Đinh Điền – một tướng giỏi của Đinh Bộ Lĩnh và Lý Chiêu Hoàng –vị vua cuối cùng của Nhà Lý. Công lao của các vị thành hoàng làng đã được ghi chép trong các bộ chính sử, dã sử và các truyền thuyết dân gian ở địa phương. Đây được khẳng định là các nhân vật mà tên tuổi hết sức quen thuộc trong lịch sử. Đó là biểu tượng tiêu biểu cho những truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta, thể hiện lòng yêu nước thương dân, tinh thần chống giặc ngoại sâm kiên cường bất khuất. Những nét truyền thống ấy đã hội tụ đầy đủ trong ba vị thành hoàng làng, khiến họ sống mãi trong lòng dân tộc như những vị anh hùng bất tử.

Chúng ta đều biết, đã bao đời nay, lễ hội đình làng đã ăn sâu, bén rễ và đã trở thành một phần quan trọng, trở thành nhu cầu không thể thiếu trong đời sống sinh hoạt tâm linh tín ngưỡng của mỗi cộng đồng dân cư. Hàng năm, cứ vào tháng 2 âm lịch, dân làng Tình Quang lại tổ chức lễ hội. Không khí ấm áp của mùa xuân đã hòa quện với vạn vật đang sinh sôi nảy nở, trăm cây đang đâm chồi nảy lộc, tạo nên một khung cảnh nên thơ, huyền ảo. Với người dân Tình Quang, lễ hội không chỉ là dịp để tưởng nhớ công lao của các vị thành hoàng làng mà đó còn được coi đánh dấu sự khởi đầu của một năm mới với mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt với những ước mong về cuộc sống ấm no, hạnh phúc và tràn ngập niềm vui. Ở đó họ không chỉ được vui chơi thỏa thích, thực hành nhu cầu tôn giáo, nhu cầu về tâm linh, giúp họ cân bằng đời sống tinh thần sau một năm dài lao động căng thẳng và mệt mỏi mà còn là dịp để người dân trong làng nghỉ ngơi, tụ họp, gia tăng tình đoàn kết, cố kết cộng đồng.

Theo các cụ cao niên trong làng kể lại, xa xưa lễ hội truyền thống của làng Tình Quang được mở vào ngày 8 tháng 2 âm lịch. Nhưng từ khi làng Vịa bị chia thành hai làng Vịa lớn (Làng Tình Quang) và Vịa con (làng Cống Thôn). Làng Cống Thôn mở hội ngày mùng 8, còn làng Tình Quang mở hội ngày 18 cho khỏi trùng. Cũng theo lời các cụ cao tuổi trong làng kể lại, trước đây lễ hội kéo dài tới 8 ngày, từ ngày 18 đến ngày 26 tháng 2 âm lịch với quy mô lễ hội lớn. Ngoài ra, lễ hội Tình Quang xưa còn có cả rước văn. Nhưng cho đến nay lễ rước thành hoàng từ miếu về đình, lễ rước ông ỉn và lễ rước văn đã không còn, có chăng cũng chỉ còn tồn tại trong tâm thức của những cụ cao tuổi trong làng.

Năm 1975, hòa bình lặp lại, lễ hội Tình Quang vẫn được tổ chức hàng năm, tuy nhiên quy mô đã nhỏ dần và các nghi lễ giản lược hơn rất nhiều, số ngày tổ chức cũng giảm, một số nghi lễ cũng không còn nữa. Ngày nay, lễ hội tình Quang chỉ diễn ra trong 3 ngày. Ngày 17/2 bắt đầu tổ chức, tổ chức tế nhập tịch, nhân dân đến lễ, bên ngoài tổ chức mở hội. Ngày 18/2 là ngày chính hội, tổ chức rước nước từ sông Đuống, sau đó làm lễ tế ở đình. Ngày 19/2 tổ chức dâng hương, làm lễ tế tống lịch (lễ giã đám). Tất cả các ngày đều tính là ngày âm lịch và trong 3 ngày tổ chức ngày nào cũng có phần hội rất phong phú.

Ngày nay, tuy quy mô tổ chức lễ hội ở đình làng Tình Quang không lớn nhưng vẫn thu hút đông đảo không chỉ cư dân trong vùng mà nhân dân ở các vùng lân cận cũng đến hưởng ứng, vui hội. Cứ vào mùa lễ hội, năm nào, làng Cống Thôn (Vịa con) cũng sắm lễ sang đình Tình Quang dâng cúng các vị thành hoàng làng để bày tỏ lòng thành kính và luôn hướng về cội nguồn của mình.

Với người dân Tình Quang, rước nước là nghi thức quan trọng nhất bởi vốn xuất phát từ truyền thống lúa nước. Đối với người dân Tình Quang “Nước” luôn được coi là yếu tố quan trọng hàng đầu trong quá trình sản xuất. Nước là nguồn tài nguyên vô tận mà thiên nhiên đã ban cho con người. Người dân Tình Quang coi việc phục vụ Thánh là niềm tự hào của họ. Nhà ai có nhiều người tham gia việc Thánh thì nhà đó càng có nhiều lộc. Có lẽ trong 3 ngày hội thì rước nước vẫn được người dân chờ đợi nhất bởi nó thể hiện sức mạnh cộng đồng, sự uy nghi, linh thiêng, niềm tự hào của người dân nơi đây. Điều này cũng khớp với đặc trưng nơi đây là cứ vào ngày hội, nhà nào cũng làm bánh trôi nước, bánh rợm, bánh trưng… để cúng Thánh. Đây có thể coi là sự hân hoan của người dân với một mùa bội thu. Họ dâng lên Thánh thần những sản vật từ nông nghiệp, báo cáo với thành thần kết quả lao động của họ trong một năm qua. Bánh trôi thơm ngon, mát bổ, bánh trưng dậy mùi thơm của gạo nếp để cúng Thánh trước, sau để thụ lộc mời khách dự lễ hội của làng.

Công đức vào lễ hội Tình Quang niềm tự hào của người dân nơi đây

Lễ hội làng Tình Quang tái diễn rất nhiều những trò chơi dân gian quen thuộc như: Bịt mắt bắt dê, đấu vật, đập niêu, kéo co…Các trò chơi này kéo dài trong suốt 3 ngày hội. Tùy vào đặc điểm của từng trò chơi mà Ban tổ chức bố trí, sắp xếp vị trí tổ chức cho phù hợp.

Cũng như các lễ hội khác trên địa bàn quận Long Biên, lễ hội Tình Quang hàng năm được tổ chức hoàn toàn xã hội hóa. Tức là toàn bộ số tiền để tổ chức lễ hội đều do nhân dân tự nguyện đóng góp. Với người dân Tình Quang công đức vào lễ hội là niềm tự hào của họ bởi họ quan niệm rằng việc của làng cũng chính là việc của nhà mình. Như vậy hàng năm cứ trước hội một tháng, không ai bảo ai, nhà nào cũng công đức vào lễ hội. Ban tổ chức lễ hội lập bàn công đức tại đình, bố trí người trong Ban tổ chức thường trực để tiếp nhận công đức của các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình trong làng. Và cứ như vậy đã trở thành lệ làng từ bao giờ, không ai bảo ai mà nhà nào cũng công đức. Có gia đình thì đại gia đình công đức. Có gia đình thì từng thành viên công đức. Số tiền công đức vào hội có khác nhau. Nhất là những người có địa vị trong xã hội, làm ăn có lãi, mở công ty, doanh nghiệp, các cơ quan doanh nghiệp đóng trên địa bàn đều sẵn sàng công đức vào lễ hội. Có doanh nghiệp công đức vào lễ hội từ 5 - 10 triệu.

Những người con sinh ra và lớn lên ở Tình Quang, lấy chồng, lấy vợ ở nơi khác hay những người đã thoát ly, không làm ăn sinh sống trên đất Tình Quang thường công đức muộn hơn, hầu hết trước hội một tuần họ cũng sắp xếp thời gian về đình để công đức. Số tiền họ công đức cũng tương ứng với số tiền mà người dân trong làng công đức vào lễ hội. Họ quan niệm về dự hội không chỉ là được xem hội mà họ còn muốn được tham gia, hòa mình với lễ hội, đóng góp một phần công của của mình vào việc làng. Với họ không gì tự hào bằng một năm được trở về ngôi làng của mình, chắp tay lậy Thành hoàng làng, báo cáo với Thành hoàng kết quả lao động, sản xuất của mình. Họ còn tự hào bởi mình đang góp một phần vào việc tổ chức lễ hội của làng. Theo ban tổ chức, trước hội một tuần, các thành viên của ban tổ chức chốt danh sách, số lượng người và số lượng tiền công đức vào lễ hội, phân bổ kinh phí cho các bộ phận để tổ chức lễ hội.

Vào ngày chính hội (18/2) lượt người ra đình làm lễ Thánh rất đông. Nhà ai cũng chuẩn bị mâm lễ cúng Thánh. Trên mỗi mâm lễ đều có tờ phiếu ghi công đức, dù trước hội họ đã công đức nhưng ngày chính hội, hầu hết nhà nào cũng đặt lễ cúng Thánh. Bình quân mỗi hộ 100.000đ - 200.000đ. Công đức vào lễ hội có cả người cao tuổi, trung niên, các hội như hội đồng niên, đồng canh, dòng họ…. Trước đây ngoài người dân Tình Quang công đức, nay có cả những khách thập phương họ đi chơi hội cũng công đức vào đình với mong muốn được xin lộc Thánh. Tuy nhiên, lượng người nơi khác công đức vào lễ hội không đáng kể.

Ông Trưởng Ban tổ chức lễ hội Tình Quang cho chúng tôi biết, trước đây làng vào đám, thiếu thứ gì thì người làng công đức thứ đó, rất ít trường hợp công đức bằng tiền. Nhưng có lẽ xu hướng hiện nay là người dân công đức bằng tiền bởi nhiều lý do khác nhau như công đức bằng hiện vật thì không còn phù hợp, các vật dụng phục vụ phần lễ hầu hết đã do Ban tổ chức sắm sửa. Mỗi một người đến công đức đều được Ban tổ chức ghi vào sổ công đức của làng và được ghi nhận bằng phiếu công đức. Hầu như ai vào thắp hương lễ Thánh đều ra bàn công đức để ghi phiếu công đức. Có lẽ họ muốn một sự xác nhận của Thánh thần, của Ban tổ chức đối với công mà mình đó đóng góp vào lễ hội. Nếu không lấy phiếu ghi công đức có chăng cũng chỉ là những khách vãng lai đến thắp hương, đặt tiền giọt giàu cúng Thánh.

Nhưng dù từ nguồn nào đi chăng nữa, chúng ta vẫn có thể khẳng định số tiền công đức vào đình Tình Quang hàng năm là rất lớn. Năm 2018, tổng số tiền nhân dân và khách thập phương công đức vào đình Tình Quang là hơn 300 triệu đồng. Có lẽ với người dân Tình Quang, việc công đức vào lễ hội chính là để họ thưởng thức những nhu cầu văn hóa tinh thần mà chỉ có ngày hội làng mới có được. Ban ngày, hội làng với các trò chơi dân gian, nhưng cho đến tối, các hoạt động văn nghệ diễn ra sôi nổi. Trong 3 ngày hội tổ chức có tới 2 đêm là văn nghệ quần chúng, cây nhà lá vườn, còn  1 đêm Ban tổ chức mời các đoàn cải lương, hát chèo, múa rối về để phục vụ nhân dân trong làng. Ở hội làng Tình Quang, vào những đêm văn nghệ quần chúng, không ai bảo ai cả, hầu hết những người đi xem hát đều ủng hộ (gọi là tiền xem hát) cho các nam nữ diễn viên của làng. Người dân Tình Quang sẵn sàng bỏ tiền của mình để ủng hộ vào việc liên quan đến lễ hội, dù đó là thực hiện phần lễ hay phần hội. Với họ dường như nhu cầu về giải trí đang dần có xu hướng mạnh hơn nhu cầu về tôn giáo, tâm linh.

Bản thân tôi đã được dự lễ hội, tiếp xúc, trao đổi với nhiều người, nhiều thành phần khác nhau. Tác giả cảm nhận, việc họ công đức vào lễ hội cũng là điều dễ hiểu. Đó là thể diện của cả làng. Họ đang góp phần nâng vị thế của làng đối với các làng khác trong vùng. Nhiều người cho rằng càng tích cực công đức bao nhiêu thì càng có nhiều lộc, Thánh phụ hộ càng nhiều.  

Lễ hội trong tâm thức của mỗi người dân Tình Quang từ bao đời nay vẫn không thay đổi. Dù xã hội phát triển mạnh mẽ, tốc độ đô thị hóa nhanh, đời sống vật chất và tình thần của họ ngày càng được nâng cao nhưng có lẽ nhu cầu về tâm linh, về tôn giáo vẫn còn tồn tại. Mỗi năm vào ngày cuối cùng của lễ hội, ai cũng cảm thấy hụt hẫng. Họ đều có chung một tâm trạng, vừa vui vẻ phấn khởi, vừa lưu luyến tiếc nuối, hẹn đến mùa hội sau sẽ gặp lại. Dù lễ hội đã khép lại nhưng dư âm của nó vẫn còn vang mãi, thôi thúc người dân hăng say làm việc, lao động sản xuất, đón chờ mùa hội tới.

 

[1] Di tích lịch sử văn hóa và cách mạng kháng chiến Quận Long Biên, nhà xuất bản chính trị quốc gia năm 2008.

Một số hình ảnh lễ hội Tình Quang 

Ngji thức rước kiệu lễ hội Tình Quang năm 2016

Đoàn rước nước trở về đình lễ hội Tình Quang năm 2018

Thi đấu bóng chuyền da lễ hội Tình Quang năm 2018

Thi đấu bóng bàn lễ hội Tình Quang năm 2017