Tượng Huyền Thiên Trấn Vũ
NGUỒN GỐC TƯỢNG "HUYỀN THIÊN TRẤN VŨ"
Theo tư liệu Hán - Nôm tại di tích, nguồn gốc và niên đại tượng Huyền Thiên Trấn Vũ ở đền Trấn Vũ - Phường Thạch Bàn, quận Long Biên, TP. Hà Nội được ghi chép như sau:
Bia "Trấn Vũ điện bi ký", dựng năm Minh Mệnh nguyên niên (1820) ghi: "Khi Lê Thánh Tông (1460 - 1496) đem quân đánh Chiêm Thành, ông đã dừng chân, nghỉ lại ở địa phận xã Cự Linh, được thần Trấn Vũ ứng mộng. Vua cảm thấy xúc động, liền sai dân lập đền thờ, cho tạc tượng gỗ cùng bài vị ghi: "Hiển Linh Trấn Vũ quán". Vua lại gia ân, ban cho dân làng sở tại một số ruộng đất để phục vụ hương hỏa cho đền. Đến năm Đinh Mão, niên hiệu Cảnh Hưng (1747), dân làng đã đúc tượng đồng thay thế tượng gỗ. Tuy nhiên, nhiều người đến đây chiêm bái cảm thấy tượng chưa xứng với quy mô của đền. Do đó, đến năm Mậu Thân (1788), nhân dân sở tại đã hưng công đúc lại tượng Trấn Vũ, năm Nhâm Tuất (1802) thì hoàn thành. Tượng này, vẫn tồn tại đến tận ngày nay".
Theo Bia "Huyền Thiên Thượng đế bi ký", khắc năm Mậu Thìn, niên hiệu Bảo Đại năm thứ 3 (1927): "Trong quán Trấn Vũ, trước đây thờ bài vị, đặt trên long ngai. Bài vị khắc 5 chữ: "Hiển linh Trấn Vũ quán", bên cạnh bài vị này khắc 5 chữ "Phú Vương phủ tín cúng" (phủ Phú Vương cung tiến). Dưới thời Lê Thánh Tông, vua đã ban chiếu cho tạc tượng gỗ để phụng sự. Sau đó, khoảng 292 năm, dưới thời Lê Hiển Tông, vào năm Đinh Mão, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 8 (1747), tượng gỗ bị hư hỏng, vâng lệnh vua, các quan hợp sức với dân Ngọc Trì đúc lại tượng đồng phụng sự".
MIÊU TẢ TƯỢNG HUYỀN THIÊN TRẤN VŨ
Đây là pho tượng đồng được đúc liền khối và đúc tại chỗ (tượng cao 3,80m, chu vi 8m, nặng 4 tấn) tọa trên tảng đá cẩm thạch cao 1,2m. Tượng mang phong thái của một Đạo sĩ, gần gũi với một Phù thủy, với hai chân buông xuống dưới; tay trái bắt ấn, co ngang rồi khép trước ngực; tay phải tỳ trên đốc kiếm cắm thẳng xuống lưng rùa. Quấn quanh kiếm là một con rắn trong tư thế đang lao xuống. Tượng có đầu tròn, tai to, mặt đầy đặn, tóc ốp sát đầu, mắt khép hờ, mũi cân phân, miệng ngậm, râu dài..., mình mặc áo giáp, trên áo điểm xuyết một số dạng hoa văn, như hổ phù - được cách điệu dưới dạng hoa lá (ở đầu gối); hoa văn tổ ong nổi (ở cánh bắp tay), hoa lá thiêng (ở diềm áo), rồi long mã (ở bổ tử - trước ngực)... Xét về tổng quan có thể nhận thấy, tượng Trấn Vũ ở đền Cự Linh (quận Long Biên) tuy có nhiều nét tương đồng với tượng Trấn Vũ ở đền Quán Thánh, phần nào cũng tương đồng về bố cục với tượng Trấn Vũ ở chùa/quán Huyền Thiên (đều thuộc Hà Nội) nhưng lại có phong thái "hiền hòa", gần gũi với tinh thần tạo tượng dân gian của người Việt...
Ý NGHĨA TƯỢNG HUYỀN THIÊN TRẤN VŨ
Hiện vật gốc độc bản:
Tượng Trấn Vũ là pho tượng đồng được đúc liền khối và đúc tại chỗ, có kích thước và trong lượng lớn, có niên đại sớm, tiêu biểu cho trong các sản phẩm đúc đồng khối lớm (hiện còn) của người Việt trong lịch sử.
Hiện vật có hình thức độc đáo:
Theo truyền thuyết, Trấn Vũ vốn là một vị thần trong hệ thần Đạo giáo, sau khi du nhập vào Việt Nam, đã được Việt hóa và trở thành vị thần trấn giữ phương Bắc (trong Thăng Long Tứ trấn), đồng thời được chuyển hóa thành vị thần chống lụt và trị thủy, thậm chí được phong thành Phật... Do vậy, hình thức tạo tượng cũng đã được Việt hóa để thích nghi với tâm thức tín ngưỡng dân gian Việt. Theo đó, tượng đã được tạo theo "Thánh tích" - sự tích của Thánh và trở thành một tác phẩm nghệ thuật có giá trị độc đáo…
Hiện vật tiêu biểu cho nghệ thuật đúc đồng (khối lớn) thời Lê Trung hưng và đầu thời Nguyễn
Cho đến nay, ngoài tượng Trấn Vũ ở đền Cự Linh, những cổ vật được đúc bằng đồng với kích thước lớn của người Việt còn lại không nhiều, đặc biệt là những cổ vật có niên đại sớm... Điểm qua, có thể kể tới pho tượng A Di Đà ở đảo Cát Hải (Hải Phòng), có kích thước tương đương với một người trưởng thành, mang phong cách nghệ thuật của thế kỷ XVII; tiếp theo, có thể kẻ tới những khẩu súng thần công được đúc vào cuối thời Lê Trung hưng và thời Nguyễn và bộ Cửu đỉnh (đúc thời Minh Mạng), hiện đang được đặt trong sân Thế Miếu (Đại nội Huế), tượng Trấn Vũ đền Quán Thánh, tượng Phật chùa Ngũ Xã - được đúc vào khoảng giữa thế kỷ XX (đều thuộc Hà Nội)…, cùng một số cổ vật ở những địa điểm thờ tự khác... Từ những cổ vật đúc đồng khối lớn này, chúng ta nhận thấy một vài điểm cần quan tâm như sau:
Từ góc độ tạo tượng, tượng Trấn Vũ ở đền Cự Linh mang tính chất khá thuần hậu, là một minh chứng cho bước chuyển tiếp của phong cách tạo tượng (đúc khối lớn) từ thời Lê Trung hưng sang thời Nguyễn, đồng thời cũng tiêu biểu cho bước Việt hóa về hình hài và vai trò của một vị thần có nguồn gốc từ văn hóa ngoại lai sau khi được du nhập vào nước ta…;
Từ góc độ kỹ thuật, mặc dù tư liệu lịch sử đã xác nhận, Việt Nam có truyền thống đúc đồng khối lớn từ khá sớm, ít ra là từ thời Lý, nhưng do nhiều nguyên nhân mà những tác phẩm đã được lịch sử xác nhận (như An Nam tứ đại khí) không còn. Vì vậy, pho tượng Trấn Vũ ở đền Cự Linh sẽ là một trong không nhiều tư liệu sáng giá để các nhà nghiên cứu tìm hiểu về kỹ thuật đúc đồng khối lớn và những vấn đề về lịch sử - văn hóa, kinh tế - xã hội ở nước ta trong giai đoạn thế kỷ XVIII - XIX.
Ngày nay, pho tượng Huyền Thiên Trấn Vũ không chỉ là bảo vật quý giá của địa phương mà còn là di sản văn hóa có ý nghĩa quan trọng đối với Thủ đô Hà Nội. Việc bảo tồn và phát huy giá trị của pho tượng góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa truyền thống, đồng thời giáo dục thế hệ hôm nay và mai sau về lịch sử, tín ngưỡng và nghệ thuật của cha ông.